vanban.org

Bản án 89/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc L, cho bà Nguyễn Thị Ngọc L ly hôn với ông Đặng Thành H.

Về con chung: Giao 01 con chung tên Đặng Thành T sinh ngày 13/3/2009 cho bà Nguyễn Thị Ngọc L nuôi dưỡng. Ông Đặng Thành H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đặng Thành H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì quyền lợi con chung, ông Đặng Thành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc L "Ly hôn" Đặng Thành H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc L, cho bà Nguyễn Thị Ngọc L ly hôn với ông Đặng Thành H.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T,
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30-10-2018
Về việc: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Kiều Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tĩnh.

Bà Mai Thị Kim Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chiến – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án thụ lý số 219/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2018 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1984.

Địa chỉ: B Huỳnh Văn Đ, Khu phố B, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Đặng Thành H, sinh năm 1981.

Địa chỉ: A Nguyễn Công T, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

(Bà L có mặt, ông H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/7/2018 và các lời trình bày của bà Nguyễn Thị Ngọc L có nội dung:

Năm 2008, bà quen biết và kết hôn với ông Đặng Thành H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Long An. Bà và ông H chung sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng mâu thuẫn về tình cảm, quan điểm, lối sống nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: bà và ông H có 01 con chung tên Đặng Thành T sinh ngày 13/3/2009. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, ông Đặng Thành H, đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H không đến tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải do Tòa án tổ chức, không có văn bản thể hiện ý kiến của ông đối với yêu cầu ly hôn của bà L. Phiên tòa hôm nay, ông H cũng vắng mặt dù đã được tống đạt giấy báo hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:

- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật. Riêng ông H dù đã được Tòa án niêm yết, tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên đủ điều kiện xét xử vắng mặt ông H.

- Về nội dung:

Về tình cảm: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ có đủ cơ sở nhận định quan hệ hôn nhân giữa ông H và bà L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.

Về con chung: Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng 01 con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung, ông H không có ý kiến nên cần chấp nhận yêu cầu của bà L.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Do bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đặng Thành H có địa chỉ cư trú tại thành phố T nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Long An.

Về việc xét xử vắng mặt bị đơn là ông Đặng Thành H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Biên bản phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và các giấy triệu tập ông H đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng ông H không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt ông H là đúng theo quy định tại Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc L và ông Đặng Thành H tự tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường M, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Long An năm 2008 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của bà L thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, quan điểm, lối sống nên thường hay cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, biết được việc bà L yêu cầu ly hôn với ông nhưng ông không có văn bản thể hiện ý kiến của ông là muốn được đoàn tụ hoặc đưa ra những biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà L. Hiện tại, bà L và ông H đã không còn sống chung với nhau. Như vậy, chứng tỏ rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà L và ông H đã có những mâu thuẫn không giải quyết được. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: bà L và ông H có một (01) con chung tên Đặng Thành T sinh ngày 13/3/2009. Thấy rằng, con chung hiện đang sống với bà L. Bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H cũng không có ý kiến về con chung nên Hội đồng xét xử nhận thấy tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng để đảm bảo ổn định cuộc sống của con chung, không buộc ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông H được quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì quyền lợi con chung, ông H, bà L có quyền xin thay đổi việc nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000đ theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ngọc L, cho bà Nguyễn Thị Ngọc L ly hôn với ông Đặng Thành H.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Đặng Thành T sinh ngày 13/3/2009 cho bà Nguyễn Thị Ngọc L nuôi dưỡng. Ông Đặng Thành H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Đặng Thành H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Khi cần thiết vì quyền lợi con chung, ông Đặng Thành H, bà Nguyễn Thị Ngọc L có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về án phí: bà Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0002255 ngày 09/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T thành án phí dân sự sơ thẩm, bà L đã nộp đủ.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án. *Nơi nhận:

Cỡ chữ