- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Khánh V ly hôn Huỳnh Thanh P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Khánh V về việc “Tranh chấp ly hôn” với anh Huỳnh Thanh P.
- Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2026/HNGĐ-ST Ngày: 09-7-2026 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – TÂY NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Xuân An
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Mé
Ông Nguyễn Thiện Tín
Thư ký phiên tòa: Bà Biện Tiểu Vy – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2026/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Khánh V, sinh năm 1983;
Địa chỉ đăng ký thường trú: Số 72B, đường Lý Thường Kiệt, Khóm 4, phường Tân T, tỉnh C.
Hiện cư trú tại: ấp 4, xã C, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh P, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp 4, xã C, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự, vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn – chị Trần Khánh V trình bày: Sau thời gian tìm hiểu, quen biết, chị Trần Khánh V và anh Huỳnh Thanh P kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân Phường 6, thành phố C, tỉnh C cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19-11-2024. Vợ chồng có một người con chung tên Huỳnh Trần Minh Tr, sinh ngày 04-10-2024. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với gia đình chồng. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn, do các thành viên trong gia đình không hòa hợp, không thống nhất với nhau về cách nuôi dạy con. Tình trạng này kéo dài và ngày càng trầm trọng, vợ chồng thường xuyên cự cãi, không thể hòa hợp, không thể giải quyết được. Hiện chị đã dọn đến nơi khác sinh sống, con chung sống chung với anh P. Nay thấy rằng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc, nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P. Khi khởi kiện, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 5.000.000 đồng. Nay thấy rằng, anh P và gia đình có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên chị đồng ý giao con chung cho anh P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu Tòa án ghi nhận về cấp dưỡng nuôi con. Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – anh Huỳnh Thanh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng anh Huỳnh Thanh P không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị V, và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh P. Chị Trần Khánh V đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và giải quyết vụ án vắng mặt chị. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị Trần Khánh V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Thanh P, anh Huỳnh Thanh P cư trú tại xã C, tỉnh Tây Ninh nên Tòa án nhân dân khu vực 7 – Tây Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Trần Khánh V, anh Huỳnh Thanh P có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự.
Về hôn nhân: Chị Trần Khánh V, anh Huỳnh Thanh P kết hôn, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân Phường 6, thành phố C, tỉnh C cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 19-11-2024, nên xác định hôn nhân giữa chị V và anh P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị Trần Khánh V cho rằng quá trình chung sống giữa vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc. Chị V xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh P không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P. Anh Huỳnh Thanh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng anh P không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị V dưới bất kì hình thức nào. Qua đó, thấy rằng, chị V và anh P đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Từ đó, có đủ cơ sở xác định, tình cảm vợ chồng giữa chị V và anh P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V về việc ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị Trần Khánh V xác định vợ chồng có một người con chung tên Huỳnh Trần Minh Tr, sinh ngày 04-10-2024, hiện cháu Tr đang sống chung với anh P, chị V đồng ý giao con chung cho anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh P không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của chị V, giao cháu Tr cho anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị V và anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị Trần Khánh V xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Huỳnh Thanh P không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị Trần Khánh V xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Huỳnh Thanh P không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Khánh V là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nên chị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án số 85/2025/QH15; khoản 1 Điều 9, Điều 56, các điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Khánh V về việc “Tranh chấp ly hôn” với anh Huỳnh Thanh P.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Khánh V và anh Huỳnh Thanh P không còn là vợ chồng.
Về con chung: Giao cháu Huỳnh Trần Minh Tr, sinh ngày 04-10-2024 cho anh Huỳnh Thanh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Chị Trần Khánh V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005555 ngày 20-3-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND khu vực 7 – Tây Ninh; - THADS tỉnh Tây Ninh; - UBND phường T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu án văn; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nguyễn Xuân An |