- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Lý Thị Sà K được ly hôn với ông Lý Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27-3-2026 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Đông
Ông Trần Văn Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.
Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lý Thị Sà K, sinh ngày 01/01/1981 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
CCCD số: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 20/3/2023.
Địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Lý Văn H, sinh năm 1980 (vắng mặt).
CCCD số: xxxxxxxxxxxx.
Địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 06/11/2025 nguyên đơn bà Lý Thị Sà K trình bày:
Ngày 16/10/2010 bà Lý Thị Sà K và ông Lý Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND xã L. Quá trình chung sống thời gian đầu thì bình thường, nhưng dần dần vợ chồng cự cải bất đồng quan điểm nhau trong cuộc sống và ông H nhiều lần đánh đập bà nên vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 03 năm nay. Nay bà yêu cầu được ly hôn với ông H. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lý Hoàng C, sinh ngày 10/5/2002 và Lý Hoàng T, sinh ngày 30/4/2004, hiện hai con đã thành niên và có cuộc sống riêng, nên không yêu cầu xem xét. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết.
- Bị đơn ông Lý Văn H vắng mặt, không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Lý Thị Sà K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn ông Lý Văn H vắng mặt không lý do, đương sự đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 76/2010 (Quyển số 01/2010) ngày 16/10/2010 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (nay là UBND xã L, thành phố Cần Thơ) thể hiện, bà Lý Thị Sà K và ông Lý Văn H có đăng ký kết hôn, đương sự trình bày kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân này là hợp pháp. Qua lời trình bày của nguyên đơn thể hiện trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, ông H nhiều lần đánh đập bà K, nên vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 03 năm nay. Tòa án đã tiến hành tổ chức hòa giải nhưng ông H không tham gia nên không hành hoà giải được, ông H không phản hồi ý kiến cho Toà án. Điều này chứng tỏ ông H không có nguyện vọng được hàn gắn với bà K. Việc nam nữ đăng ký kết hôn với nhau xuất phát từ mong muốn tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, nếu hôn nhân không như mong muốn, không còn hạnh phúc trong cuộc sống vợ chồng thì ly hôn chính là giải pháp cho cả hai, nên không thể bắt buộc bà K phải tiếp tục chung sống với ông H nếu như bà không còn tình cảm và thực tế hiện nay vợ chồng đã không còn chung sống với nhau là vi phạm tình nghĩa vợ chồng được luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà K và ông H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà K được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà Lý Thị Sà K trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Lý Hoàng C, sinh ngày 10/5/2002 và Lý Hoàng T, sinh ngày 30/4/2004, hiện hai con đã thành niên và có cuộc sống riêng, nên không yêu cầu xem xét. Căn cứ theo bản sao giấy khai sinh nguyên đơn bà K cung cấp cho Tòa án đối với 02 con chung tên Lý Hoàng C và Lý Hoàng T đều đã thành niên, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Buộc K phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008773 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà K đã nộp xong án phí.
Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Lý Thị Sà K được ly hôn với ông Lý Văn H.
2. Về con chung: Các con chung đã thành niên, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết trong vụ việc ly hôn do đương sự không có yêu cầu.
4. Án phí sơ thẩm: Buộc bà Lý Thị Sà K phải chịu án phí ly hôn số tiền 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0008773 ngày 06/11/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà K đã nộp xong án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND KV7-Cần Thơ; - THADS TP Cần Thơ; - UBND xã L, TP Cần Thơ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Nghiệp |