- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "N-Q: Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Linh N. Cho anh Lê Linh N được ly hôn với chị Trương Thị Mỹ D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2026/HNGĐ-ST Ngày: 03-4-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nông Phú.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tuấn Lam.
Ông Dương Văn Tính.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở 1 - Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 464/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Linh N, sinh ngày 15/7/1985. Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Có đơn xin vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Trương Thị Mỹ D, sinh ngày 16/02/1992. Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 11 năm 2025, trong quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn, anh Lê Linh N, trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2011, anh quen biết chị Trương Thị Mỹ D, qua thời gian tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân. Năm 2014 kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L (nay là xã L). Sau khi cưới, vợ chồng sống hạnh phúc và đi làm thuê tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 2016, vợ chồng về sống chung với gia đình bên anh. Năm 2023, chị D đi làm thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do chị D có người khác bên ngoài, không chăm lo cho gia đình, vợ chồng không có tiếng nói chung, sống chung không còn hạnh phúc và ly thân từ tháng 02/2025 đến nay. Sau khi vợ chồng không còn sống chun,g anh và chị D không có gặp nhau hàn gắn tình cảm. Nay anh yêu cầu ly hôn với chị Trương Thị Mỹ D vì tình cảm không còn.
Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Lê Trương Hồng U, sinh ngày 30/01/2016, Lê Thanh X, sinh ngày 30/3/2019, anh yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng, anh làm lái xe cho Công ty P đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con tốt. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tiến hành tố tụng, bị đơn chị Trương Thị Mỹ D đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định nhưng chị D vẫn không có mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho anh Lê Linh N được ly hôn với chị Trương Thị Mỹ D. Về việc nuôi con: Chấp nhận yêu cầu của anh N, được tiếp tục nuôi con chung, chị D không phải cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Anh Lê Linh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Trương Thị Mỹ D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn anh Lê Linh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn chị Trương Thị Mỹ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa anh Lê Linh N và chị Trương Thị Mỹ D được pháp luật công nhận, vì có đăng ký kết hôn phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Xét, yêu cầu của anh N là có căn cứ để chấp nhận, vì trong quá trình chung sống giữa anh N và chị D có phát sinh mâu thuẫn gia đình. Anh N và chị D không còn sống chung đã lâu vẫn không hàn gắn được. Tòa án đã triệu tập chị D đến tham gia phiên hòa giải và tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng chị D đều vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ. Điều này cho thấy hôn nhân giữa anh N và chị D không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Lê Linh N được ly hôn với chị Trương Thị Mỹ D theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp nên chấp nhận, vì chị D không có ý kiến về việc nuôi con. Về cấp dưỡng, chưa có yêu cầu cấp dưỡng, nên chưa xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chưa xem xét.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn anh N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp; anh N đã nộp đủ tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Linh N. Cho anh Lê Linh N được ly hôn với chị Trương Thị Mỹ D.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của anh Lê Linh N.
2.1. Anh Lê Linh N được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Lê Trương Hồng U, sinh ngày 30/01/2016 và Lê Thanh X, sinh ngày 30/3/2019.
2.2. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Linh N chịu 300.000đ án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số 0009100 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, anh N đã nộp đủ tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn, nếu có; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nông Phú |