- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hữu Tr phạm tội: "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5- ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2025/HS-ST Ngày 28-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Ân
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Trần Thị Kim Thanh;
+ Bà Nguyễn Thị Ánh Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mùi - Thư ký Tòa án khu vực 5-Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Đà Nẵng tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 66/2025/TLHS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Phạm Hữu Tr; giới tính: nam; tên gọi khác: không; Sinh ngày 12 tháng 7 năm 2006 tại: phường Q, thành phố Đ; địa chỉ: khối phố Ph, phường Q Ph, thành phố Đ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: nhân viên. Con ông: Phạm Hữu Kh (chết) và bà Nguyễn Thị Ch (sinh năm 1984); gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: ngày 22/3/2023, bị Công an thành phố Tam Kỳ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.250.000 đồng về hành vi “Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ có khả năng gây sát thương; đồ vật phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”.
Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại: bà Đặng Thị Ph, sinh năm: 1985, địa chỉ: số 165 Hùng Vương, khối phố M, phường T, thành phố Đ. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Hoàng Trần Chí Th, sinh năm: 2000, địa chỉ: Tổ 65, phường L, thành phố Đ. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 13 giờ 00 phút, ngày 09/6/2025, trong quá trình bán hàng tại cửa hàng điện thoại Hảo Apple Số 165 Hùng Vương, khối phố M, phường T, thành phố Đ, Phạm Hữu Tr đi vào khu sinh hoạt của chủ nhà để tắm. Khi vào bên trong, không thấy ai ở nhà, cửa phòng ngủ mở nên Tr nảy sinh ý định vào tìm kiếm tài sản có giá trị để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Tr thấy tủ đồ có ổ khóa, Tr nghĩ bên trong có tài sản có giá trị nên đã dùng tay giật mạnh tay cầm cánh cửa tủ có ổ khóa. Khi cửa tủ mở, Tr thấy bên trong có hai con heo đất, Tr cầm con heo đất màu vàng lên kiểm tra. Khi phát hiện bên trong có tiền, Tr dùng tay gõ vào đáy heo đất làm thủng một lỗ và lấy toàn bộ số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) bên trong bỏ vào túi quần của mình rồi để heo đất về lại vị trí cũ. Lúc này, Tr thấy trong tủ có nhiều túi xách nên Tr chuyển sang lục các túi xách. Khi lục túi đeo chéo màu đen nhãn hiệu Puma, Tr thấy bên trong có tiền, Tr đếm thì thấy có số tiền 41.500.000đ (Bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Tr lấy toàn bộ số tiền đó bỏ vào túi quần của mình và đặt túi xách vào tủ. Sau đó, Tr quay trở lại khu kinh doanh của cửa hàng điện thoại lên mạng tìm mua xe. Tr liên hệ và chốt mua 01 (một) xe mô tô Airblade, biển kiểm soát 43AE-059.41 với giá 48.000.000đ (bốn mươi tám triệu đồng), trả trước 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), số tiền còn lại trả góp trong vòng hai tháng với tài khoản facebook “Hoàng Trần Chí Thành” (một người quen biết trước đây của Tr do Tr đã có mua bán xe máy với người này). Sau đó, Tr gọi xe dịch vụ đi ra trung tâm thành phố Đà Nẵng để lấy xe. Trên đường đi, Tr ghé lại cây ATM ngã tư Trần Phú - Hùng Vương thực hiện giao dịch không cần thẻ và nộp số tiền 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu đồng) vào tài khoản của mình tại ngân hàng MB bank số 0000995983859 rồi sau đó thực hiện chuyển từ số tài khoản của Tr đến số tài khoản 0800172727373 Ngân hàng MB của người bán xe là Hoàng Trần Chí Th số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Khi ra đến thành phố Đà Nẵng, Tr liên lạc với Th để nhận xe. Sau khi nhận xe Tr liên hệ bạn quen trên facebook tên “Đạt” để cùng đi ăn và về Tam Kỳ. Tuy nhiên, khi đến đường Phan Đăng Lưu thì xe của Tr (do Đạt điều khiển) va chạm với xe ô tô. Xe của Tr bị hư phần đầu nên một người bạn khác của Tr tên Hồ Thanh V đến hỗ trợ đưa xe về tiệm xe của V để sửa. Khi Đạt giải quyết xong xe ô tô thì Tr gọi xe dịch vụ quay về lại cửa hàng điện thoại và ở lại cửa hàng cho đến khi cơ quan Công an mời Tr về làm việc. Ngoài số tiền dùng để mua xe, Tr đã sử dụng số tiền còn lại trong số tiền đã trộm cắp được cho việc tiêu xài cá nhân khác.
* Đồ vật tài liệu bị tạm giữ:
- Từ Phạm Hữu Tr 01 (một) xe mô tô Airblade, biển kiểm soát 43AE-059.41 (số máy JK14E0441552; số khung RLHJK1405RZ318767) (bị hư hỏng);
- Hoàng Trần Chí Th tự nguyện giao nộp số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước Khu vực XII số tài khoản của Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam; 02 giấy mua bán xe;
- Đặng Thị Ph giao nộp 01 (một) ống tiết kiệm bằng đất nung có hình dạng con heo ngồi màu vàng chiều cao 25cm, đường kính đáy 12cm; 01 (một) túi đeo chéo màu đen nhãn hiệu Puma.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSTK-HS ngày 18/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Hữu Tr về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Hữu Tr với mức án từ 9 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng, dân sự và các vấn đề liên quan khác theo nội dung đề nghị tại bản cáo trạng.
Bị cáo không tranh luận, nhận tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Đà Nẵng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Về nội dung:
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 09/6/2025, tại cửa hàng điện thoại Hảo Apple Số 165 Hùng Vương, khối phố M, phường T, thành phố Đ, Phạm Hữu Tr đã có hành vi lén lút trộm cắp của bà Đặng Thị Ph số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) để mua xe và tiêu xài cá nhân.
Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đà Nẵng truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tài sản hợp pháp của mọi công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Phạm Hữu Tr đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe mô tô Airblade, biển kiểm soát 43AE-059.41, qua xác minh xe đứng tên Trần Đặng Văn Hiếu (sinh năm 2000; trú: Mân Thái, Sơn Trà, Đà Nẵng), xe đã được Hiếu bán cho Hoàng Trần Chí Th vào ngày 07/6/2025 (theo giấy bán xe), đến ngày 09/6/2025 Thành bán lại cho Phạm Hữu Tr. Quá trình điều tra xác định: Tr sử dụng tiền trộm cắp để mua xe; giữa Thành và Tr chưa giao dịch mua bán xe xong (Tr còn nợ 8.000.000 đồng); Th đã tự nguyện giao nộp số tiền 40.000.000 đồng Tr bán xe cho Thành và có đơn xin nhận lại xe, do đó, cần trả lại xe cho Hoàng Trần Chí Th là phù hợp;
- Đối với số tiền 40.000.000 đồng Hoàng Trần Chí Th giao nộp là tiền bị cáo Tr trộm cắp của bà Đặng Thị Ph để mua xe, do đó cần trả lại cho bà Đặng Thị Ph.
- Đối với 01 (một) ống tiết kiệm bằng đất nung có hình dạng con heo ngồi màu vàng chiều cao 25cm, đường kính đáy 12cm và 01 (một) túi đeo chéo màu đen nhãn hiệu Puma (đã qua sử dụng). Xét thấy, tài sản trên đã cũ không có giá trị, bà Phượng không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 02 giấy mua bán xe do Hoàng Trần Chí Th giao nộp cần tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại bà Đặng Thị Ph có yêu cầu Phạm Hữu Tr trả lại số tiền 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) mà Phạm Hữu Tr chiếm đoạt ngày 09/6/2025 của bà Ph. Trong đó, có 40.000.000 đồng đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước; số tiền 5.000.000 còn lại Tr chưa trả cho bà Ph do đó cần buộc bị cáo phải trả số tiền trên cho bị hại.
Hoàng Trần Chí Th có đơn xin nhận lại xe mô tô trên và yêu cầu Phạm Hữu Tr bồi thường dân sự số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) tiền chi phí sửa lại phần xe đã bị hư hỏng, bị cáo Tr thống nhất bồi thường số tiền trên.
Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự: buộc Phạm Hữu Tr có trách nhiệm trả lại cho Đặng Thị Ph số tiền 5.000.000 đồng đã trộm cắp và trả cho Hoàng Trần Chí Th số tiền 10.000.000 đồng chi phí sửa xe.
. Vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với Hoàng Trần Chí Th là chủ hộ kinh doanh Thành Bin là người bán 01 (một) xe mô tô Airblade màu xanh bạc, biển kiểm soát 43AE-059.41 cho Phạm Hữu Tr ngày 09/6/2025 có giấy tờ hợp pháp, đồng thời Thành không biết việc Tr sử dụng tiền trộm cắp mà có được để mua xe. Do đó, hành vi của Hoàng Trần Chí Th không có dấu hiệu của tội phạm và vi phạm hành chính nên không xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
[1]. Tuyên bố bị cáo Phạm Hữu Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu Tr 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
[2]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Trả lại xe mô tô Airblade, biển kiểm soát 43AE-059.41; số máy JK14E0441552; số khung RLHJK1405RZ318767 cho chủ sở hữu là Hoàng Trần Chí Thành;
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống tiết kiệm bằng đất nung có hình dạng con heo ngồi màu vàng chiều cao 25cm, đường kính đáy 12cm và 01 (một) túi đeo chéo màu đen nhãn hiệu Puma không có giá trị mua bán, sử dụng;
( (Vật chứng đang được tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 29/10/2025 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố Đà Nẵng và Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Đà Nẵng).
- Trả lại cho bà Đặng Thị Ph số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) theo Giấy nộp tiền ngày 18/6/2025 vào tài khoản số 3949.0.9046391.00000 của Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Nam tại Kho bạc Nhà nước Khu vực XII.
- Lưu hồ sơ vụ án 02 giấy mua bán xe do Hoàng Trần Chí Th giao nộp.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự: buộc Phạm Hữu Tr có trách nhiệm trả lại cho bà Đặng Thị Ph số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và trả cho Hoàng Trần Chí Th số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
[4]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí HS-ST số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) và án phí DS-ST số tiền 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng), tổng cộng là 950.000đ (Chín trăm năm mươi nghìn đồng).
[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28-11-2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND thành phố Đà Nẵng;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Đà Nẵng (PV06);
- VKSND khu vực 5 – Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 5 – Đà Nẵng;
- Cơ quan CSĐT CATP Đà Nẵng;
Trần Thị Bích Ân
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.;
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh, thành phố; - TAND tỉnh Quảng Nam; - Chi cục THADS thành phố; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |