vanban.org

Bản án 89/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ly Thị N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ly Thị N 05 (năm) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 04/6/2025. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ly Thị Nếnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ly Thị N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HS-ST
Ngày 30-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Xuân Hồng.

2. Ông Nguyễn Hữu Đà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Hải Nam, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hoàn, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 2, Toà án nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2025/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ly Thị N (Không có tên gọi khác), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại tỉnh Điện Biên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Huổi Ch, xã Na T, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên (nay là bản Huổi Ch, xã Núa Ng, tỉnh Điện Biên); nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ly Phái T (đã chết) và bà Và Thị D, sinh năm 1963; chồng Sềnh A S, sinh năm 1967 và có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 04/6/2025, tạm giam từ ngày 10/6/2025 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người phiên dịch cho bị cáo Ly Thị N:

+ Anh: Giàng A S, sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Tổ 02, xã N S, tỉnh Điện Biên, có mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 04/6/2025, Ly Thị N đi bộ từ nhà ở Bản Huổi Ch, xã Na T, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên (nay là bản Huổi Ch, xã Núa Ng, tỉnh Điện Biên) đi tìm mua ma tuý về để sử dụng. Tại khu vực rừng thuộc bản Huổi Ch, xã Na T (nay là bản Huổi Ch, xã Núa Ng, tỉnh Điện Biên) N gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi (không biết tên và địa chỉ) 01 túi Methamphetamine; 01 gói Methamphetamine và 01 gói Heroine với tổng số tiền 970.000đ. Mua được ma túy N cầm ở trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ về nhà. Hồi 07 giờ 45 phút cùng ngày, Khi N đang đi trên đường ở khu vực rừng thuộc Bản Huổi Ch, xã Na T, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên (nay là bản Huổi Ch, xã Núa Ng, tỉnh Điện Biên) thì tổ công tác bộ đội Biên phòng Mường Nh – Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an xã Mường Nh và Công an xã Na T, tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang thu giữ tại lòng bàn tay phải của N 01 túi nilon màu đen bên trong có 79 viên nghi Methamphetamine có tổng khối lượng 7,93 gam; 01 gói nilon màu trắng bên trong có 26 viên nghi Methamphetamine có tổng khối lượng 2,61 gam và 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 0,5 gam nghi Heroine. Tổng hai chất ma túy Ly Thị N cất giấu là 11,04 gam.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng, miệng gói được túm lại, bên trong có các cục chất bột màu trắng đục nghi Heroine.

- 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng, miệng gói được túm lại, mở bên trong có 26 viên nén màu hồng, trên bề mặt tất cá các viên nén đều có chữ WY nghi ma tuý Methamphetamine.

- 01 túi nilon màu đen miệng túi có nẹp bấm cố định, mở bên trong có 79 viên nén màu hồng, trên bề mặt tất cá các các viên nén đều có chữ WY nghi ma tuý Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định chất ma tuý; niêm phong mẫu giám định và niêm phong vật chứng, đồ vật tài liệu còn lại hồi 19 giờ 30 phút, ngày 04/6/2025 xác định:

Tại bản kết luận giám định số: 510/KL-KTHS ngày 08/6/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận:

- Mẫu các cục chất bột màu trắng đục thu giữ của Ly Thị N gửi giám định có khối lượng 0,5 gam, ký hiệu M1 là chất ma tuý: Loại Heroine.

- 02 mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Ly Thị N có ký hiệu M2, khối lượng 2,61 gam; M3: 7,93 gam là chất ma tuý: Loại Methamphetamine.

2

Bản Cáo trạng số: 51/CT-VKSKV2 ngày 14 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Ly Thị N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm n Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Điện Biên giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ly Thị N cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm n Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ly Thị N từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm 03 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 0,32 gam Heroine hoàn lại sau khi giám định.

- Tịch thu, tiêu huỷ 9,5 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

- Tịch thu, tiêu hủy 02 mảnh nilon màu trắng.

- Tịch thu, tiêu huỷ 01 túi nilon màu đen, miệng túi có nẹp bấm cố định.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Ly Thị N bị truy tố thấy rằng:

Hồi 07 giờ 45 phút ngày 04/6/2025, tổ công tác bộ đội Biên phòng Mường Nh - Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an xã Mường Nh và Công an xã Na T, tỉnh Điện Biên, làm nhiệm vụ tại khu vực rừng thuộc bản Huổi Chanh xã Na T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên (nay là bản Huổi Ch, xã Núa Ng, tỉnh Điện Biên) phát hiện, bắt quả tang Ly Thị N đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người tổng 10,54 gam Methamphetamine và 0,5 gam Heroine. Tổng hai chất ma túy Ly Thị N cất giấu để sử dụng cho bản thân là 11,04 gam. Mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 4 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc Hội; Khoản 2 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ly Thị N đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm n Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

3

Tại Điểm n Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

… n) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ e đến m khoản này”.

Như vậy, bản Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.

. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã Núa Ngam nói riêng, tỉnh Điện Biên nói chung. Vì vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi, vi phạm của mình. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, là đối tượng nghiện chất ma tuý nên không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

4

. Về vật chứng vụ án: Gồm 0,32 gam Heroine hoàn lại sau giám định; 9,5 gam Methamphetamine là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 túi nilon màu đen, miệng túi có nẹp bấm cố định là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, bị cáo khai là người đã bán ma tuý cho bị cáo ngày 04/6/2025 tại Bản Huổi Ch, xã Na T, huyện Điện B, tỉnh Điện Biên (nay là bản Huổi Ch, xã Núa Ng, tỉnh Điện Biên), do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, vì vậy không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm n Khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Ly Thị N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Ly Thị N 05 (năm) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 04/6/2025.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu hủy 0,32 gam Heroine và 9,5 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định.

- Tịch thu, tiêu hủy 02 mảnh nilon màu trắng.

- Tịch thu, tiêu huỷ 01 túi nilon màu đen, miệng túi có nẹp bấm cố định.

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Điện Biên theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 16 giờ 15 phút ngày 15/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 2 - Điện Biên.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ly Thị N.

5

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2025)./.

Cỡ chữ