- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Trần Mạnh A - Chị Nguyễn Thị E"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Mạnh A,
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST Ngày 24-4-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Anh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà số 07/TB-TA ngày 17 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Mạnh A, sinh năm 1996; nơi thường trú: Thôn B, xã C, thành phố D, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện nay: Hàn Quốc; vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị E, sinh năm 1995; nơi thường trú: Số 16/121 đường G, tổ H, phường I, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Hàn Quốc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc nộp ngày 13 tháng 3 năm 2025, nguyên đơn là anh Trần Mạnh A trình bày:
Anh A và chị Nguyễn Thị E kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc ngày 21/12/2022. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hoà thuận một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi, không tìm được tiếng nói chung. Do mâu thuẫn căng thẳng nên từ tháng 12/2024 đến nay, vợ chồng sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Anh A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã nộp đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho anh A được ly hôn với chị E.
Về con chung và tài sản chung: Anh A xác nhận quá trình chung sống, anh A và chị E không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai có xác nhận của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, bị đơn là chị Nguyễn Thị E trình bày:
Chị E thống nhất với lời trình bày của anh A về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn. Đến nay, chị E thấy rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh A xin ly hôn, chị E đồng ý.
Về con chung và tài sản chung: Chị E xác nhận quá trình chung sống, chị E và anh A không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do không có mặt ở Việt Nam, anh A, chị E đề nghị Tòa án không tiến hành hoà giải, xét xử vụ án vắng mặt và anh A ủy quyền cho anh Vũ Trọng L (địa chỉ: Số 98 ngõ 34 phố M, phường O, quận P, thành phố Hà Nội), chị E ủy quyền cho chị Đào Thị Thu Q (địa chỉ: Số 32 phố R, phường S, quận T, thành phố Hà Nội) nhận các văn bản tố tụng, bản án của Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn giữa các đương sự là người Việt Nam hiện đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng - quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Do điều kiện ở xa và do bận công việc, không thể có mặt trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, anh A, chị E có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Đề nghị của các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh A, chị E kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc ngày 21/12/2022 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Hai bên đương sự đều thống nhất khai: sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hai người đã sống ly thân từ tháng 12/2024 đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, các bên đương sự cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và cùng có quan điểm thuận tình ly hôn. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị E và anh A đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài do mục đích hôn nhân không đạt được; việc xin ly hôn là tự nguyện. Căn cứ Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh A, chị E ly hôn.
Về quan hệ con chung và tài sản chung: Anh A, chị E xác nhận quá trình chung sống không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Anh A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Mạnh A,
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Mạnh A được ly hôn với chị Nguyễn Thị E.
2. Về quan hệ con chung và tài sản chung: Anh Trần Mạnh A, chị Nguyễn Thị E xác nhận không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
3. Về án phí sơ thẩm: Anh Trần Mạnh A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngh n đ ng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001142 ngày 14/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng (người nộp thay là anh Vũ Trọng L); anh Trần Mạnh A đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Anh Trần Mạnh A, chị Nguyễn Thị E có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự (để thi hành); - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Anh Sơn |