vanban.org

Bản án 89/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Hồ Thị Thúy Hh.

Chị Hồ Thị Thúy H được ly hôn với anh Nguyễn Công Thành. Về con chung: Anh Nguyễn Công T được nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Huỳnh Nhật N sinh ngày: 24/02/2017 và Nguyễn Huỳnh Thành N sinh ngày: 02/11/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Thúy Huỳnh - Nguyễn Công Thành"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Hồ Thị Thúy Hh.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 9 - 2025
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Đạo

2. Ông Nguyễn Tường Bích

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tuyết là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân– Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Hồ Thị Thúy H, sinh ngày 25/01/1995 (Vắng mặt)

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 20/6/2024.

Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp P, xã T, tỉnh V).

Nơi cư trú hiện nay: 237/370 ấp M, xã L, huyện G, tỉnh B (Nay là 237/370 ấp M, xã P, tỉnh V).

- Bị đơn: Nguyễn Công T, sinh ngày 07/12/1985 (Vắng mặt)

Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx.

Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện B, tỉnh T (Nay là ấp P, xã T, tỉnh V).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn đề ngày 26/02/2025, bản tự khai đề ngày 26/5/2025, nguyên đơn chị Hồ Thị Thúy H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Công T kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh B (Nay là xã G, tỉnh V). Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, hay cải nhau và sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Quá trình chung sống, chị và anh T có với nhau 02 con chung tên Nguyễn Huỳnh Nhật N sinh ngày: 24/02/2017 và Nguyễn Huỳnh Thành N sinh ngày: 02/11/2018, anh T đang nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị Hồ Thị Thúy H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Nguyễn Công T.

- Về con chung: Ly hôn chị đồng ý để anh T được nuôi dưỡng 02 con chung, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Hồ Thị Thúy H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 18/8/2025.

* Bị đơn anh Nguyễn Công T các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đến lần thứ hai đều vắng mặt nên không có lời khai.

*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán phân công giải quyết án xác định đúng quan hệ tranh chấp, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt theo Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn các lần hòa giải đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị Thúy H. Về con chung: Anh Nguyễn Công T được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Thúy H khai không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Chị Hồ Thị Thúy H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 18/8/2025 (Bút lục số 42). Bị đơn anh Nguyễn Công T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải, xét xử đến lần thứ 2 nhưng anh T đều vắng mặt. Anh T hiện nay vẫn đang sinh sống tại địa phương. Căn cứ khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H, anh T là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Hồ Thị Thúy H và anh Nguyễn Công Th kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện C, tỉnh B (Nay là xã G, tỉnh V), phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị H trình bày thời gian đầu có hạnh phúc sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H trình bày là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, hay cải nhau và sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Chị H vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh Th. Anh T không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh T là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Chị Hồ Thị Thúy H khai, chị và anh Nguyễn Công T chung sống có với nhau 02 người con chung tên Nguyễn Huỳnh Nhật N sinh ngày: 24/02/2017 và Nguyễn Huỳnh Thành N sinh ngày: 02/11/2018, anh T (Là cha ruột) nuôi dưỡng. Trong vụ án này, anh T không đến Tòa án để làm việc, không có ý kiến việc nuôi dưỡng 02 con chung, Tuy nhiên, đơn ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị H khai, ly hôn đồng ý để anh T được nuôi dưỡng 02 con chung, phù hợp với nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi cháu Nguyễn Huỳnh Nhật N nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Để tránh sự thay đổi về người nuôi con, môi trường sinh sống, học tập và tâm lý của đứa trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận để anh T được nuôi dưỡng 02 con chung là phù hợp quy định pháp luật theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong vụ án này chị H không cấp dưỡng, anh T không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Tài sản chung, nợ chung:

Chị Hồ Thị Thúy H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án hôn nhân, nuôi dưỡng con chung, tài sản chung và nợ chung là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, diễn biến tại phiên tòa và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 04 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Hồ Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 233, 238, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Hồ Thị Thúy Hh.

2. Chị Hồ Thị Thúy H được ly hôn với anh Nguyễn Công Thành.

3. Về con chung: Anh Nguyễn Công T được nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Huỳnh Nhật N sinh ngày: 24/02/2017 và Nguyễn Huỳnh Thành N sinh ngày: 02/11/2018.

Anh Nguyễn Công T vắng mặt không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Trong thời gian 02 con chung của chị Hồ Thị Thúy H và anh Nguyễn Công T chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), chị Huỳnh có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung anh T có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị Thúy H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

5. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Hồ Thị Thúy H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0011206 ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre (Nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long), chị H đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ