- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Phạm Thanh V Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung với chị Huỳnh Thị Thu T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Thanh V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19/5/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Hiền.
2/ Ông Nguyễn Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hoài Hiền Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 19 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 642/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/4/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phạm Thanh V, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Thanh V trình bày:
Tôi và chị Huỳnh Thị Thu T quen biết nhau, tìm hiểu hơn một năm thì kết hôn, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn quyển số 01/2012 ngày 20/7/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi làm nhà ở riêng. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng ổn định, đến khoảng đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ tôi quen với người đàn ông khác, thường xuyên nhắn tin qua lại. Sau đó vợ tôi bỏ đi sống chung với người đàn ông khác. Từ đó đến nay vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau. Chị T cũng không về thăm con. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu được ly hôn với chị T.
- Về con chung: Có 02 cháu tên Phạm Thị Thu T1, sinh ngày 14/7/2010 và Phạm Thị Yến N, sinh ngày 27/11/2016. Ly hôn, tôi yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung do từ khi chị T bỏ nhà đi đến nay hai con chung do tôi trực tiếp nuôi dưỡng. Hai con chung cũng có nguyện vọng được sống chung với tôi, tôi không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết;
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Huỳnh Thị Thu T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến về vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến dự phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh V có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh V, chị T.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Theo đơn khởi kiện, anh V yêu cầu được ly hôn với chị T, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị T có nơi cư trú tại xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, anh V và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã T, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn quyển số 01/2012 ngày 20/7/2012 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Anh V trình bày mâu thuẫn vợ chồng anh bắt đầu phát sinh vào đầu năm 2024. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị T quen với người đàn ông khác, thường xuyên nhắn tin qua lại. Sau đó chị T bỏ đi sống chung với người đàn ông khác. Từ đó đến nay vợ chồng không còn liên lạc gì với nhau. Chị T cũng không về thăm con.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh V và chị T đã phát sinh trong thời gian dài, từ lúc ly thân đến nay anh V và chị T cũng không còn liên lạc với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án anh V giữ nguyên yêu cầu được ly hôn. Chị T mặc dù đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về nội dung vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Từ các phân tích trên chứng tỏ chị T đã không còn tha thiết với cuộc sống vợ chồng cùng anh V.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình” nhưng anh V và chị T không còn quan tâm, không cùng nhau chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng nên mâu thuẫn gia đình giữa anh V và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của anh V là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình sống chung anh V và chị T có hai con chung là cháu Phạm Thị Thu T1, sinh ngày 14/7/2010 và cháu Phạm Thị Yến N, sinh ngày 27/11/2016. Xét thấy từ lúc anh V và chị T ly thân đến nay cháu T1 và cháu N do anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Đồng thời cháu T1 và cháu N cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với anh V. Do đó để đảm bảo môi trường sống ổn định cho cháu T1 và cháu N cần tiếp tục giao cháu T1 và cháu N cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: anh V, chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: anh V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Thanh V.
1/ Về quan hệ hôn nhân: anh Phạm Thanh V được ly hôn với chị Huỳnh Thị Thu T.
2/ Về con chung: Giao cháu Phạm Thị Thu T1, sinh ngày 14/7/2010 và cháu Phạm Thị Yến N, sinh ngày 27/11/2016 cho anh V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh V chưa yêu cầu.
Chị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3/ Về án phí: anh V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh V đã nộp theo biên lai thu số 0002753 ngày 11/12/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên anh V đã thi hành xong án phí.
4/ Về quyền kháng cáo: anh Vũ, chị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - UBND xã Tân Hiệp, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Giang |