- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Diễm T - Nguyễn Hoài T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diễm T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08/9/2025 Về “xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Duy;
2. Ông Dương Vương Đạo;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Không tham gia.
Ngày 08 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở 4 Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 73/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị Diễm T – sinh năm 1984;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp);
- Bị đơn: anh Nguyễn Hoài T – sinh năm 1971;
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp);
(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tố tụng nguyên đơn chị Lê Thị Diễm T trình bày: Qua mai mối, chị và anh Nguyễn Hoài T tự nguyện tiến tới hôn nhân và tổ chức lễ cưới vào năm 2001, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào ngày 29/9/2006. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung với bên
- 2 -
nhà anh T. Quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng anh chị thường xuyên cãi vã. Chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Anh chị đã cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn nhưng không được. Nay cảm thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh T.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Dương K, sinh ngày 15/02/2002 và Nguyễn Thị Diễm T, sinh ngày 21/01/2004. Hiện cháu K và cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Bị đơn anh Nguyễn Hoài T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T, đồng thời vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. * Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Diễm T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hoài T vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T nên xác định đây là tranh chấp “ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn hiện cư trú tại xã T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn chị Lê Thị Diễm T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hoài T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh T.
Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Diễm T, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa chị T và anh T trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn; hôn nhân có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 94 ngày 29/9/2006, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Chị T xin ly
- 3 -
hôn với lý do do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng anh chị thường xuyên cãi vã. Chị và anh T đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay.
Đối với anh T, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án đã triệu tập anh T nhiều lần để tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến, cho thấy anh T không còn quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Như vậy, anh T đã mặc nhiên thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra những mâu thuẫn như chị T trình bày. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Dương K, sinh ngày 15/02/2002 và Nguyễn Thị Diễm T, sinh ngày 21/01/2004. Hiện cháu K và cháu T đã trưởng thành và có khả năng lao động được nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Chị T đề nghị để vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Chị T xác định không có; nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diễm T.
1. Cho chị Lê Thị Diễm T được ly hôn với anh Nguyễn Hoài T.
2. Về án phí: Chị Lê Thị Diễm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0010868 ngày 04/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân
- 4 -
sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp); xem như chị T đã thi hành xong án phí. 4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND KV2 – Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - UBND xã Tân Thới, tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |