vanban.org

Bản án 89/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Kim Tr.

Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Kim Tr nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Nguyễn Nhã P, sinh ngày 06/9/2016 (nữ). Ông Nguyễn Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kim Trang - Nguyễn Văn Điền"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Kim Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23-4-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Lộc

Ông Nguyễn Văn Sol

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 23 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 71/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Tr, sinh năm 1992 (xin vắng mặt).

Cư tú tại: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cư tú tại: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 01 năm 2025 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ thể hiện, nguyên đơn bà Nguyễn Kim Tr trình bày yêu cầu:

- Về hôn nhân: Qua thời gian quen biết, tìm hiểu nhau nên bà Nguyễn Kim Tr và ông Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa P và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2015. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Đ không chăm lo cho vợ con, đi làm có tiền là ăn xài cá nhân hết, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau và hiện vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2000 cho đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc và không thể tiếp tục duy trì nên bà Nguyễn Kim Tr xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

- Về con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Nhã P, sinh ngày 06/9/2016 (nữ), hiện sống chung với bà Tr. Khi ly hôn bà Nguyễn Kim Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con và cũng theo nguyện vọng của con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Kim Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản hoà giải ngày 28 tháng 02 năm 2025 bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Đ thống nhất với nội dung trình bày trên của bà Nguyễn Kim Tr, về hôn nhân ông Đ và bà Tr kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa P và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2015. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng bà Tr nói vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 và sống ly thân từ năm 2000 cho đến nay là không đúng, vợ chồng chỉ sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi với nhau và cũng do 01 phần là có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế. Xét thấy, mâu thuẫn không lớn, có thể hàn gắn hôn nhân và ông Đ còn tình cảm với bà Tr nên muốn được tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với bà Tr, cho nên ông Nguyễn Văn Đ không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Kim Tr.

- Về con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Nhã P, sinh ngày 06/9/2016 (nữ), hiện sống chung với bà Tr. Ông Đ không đồng ý ly hôn với bà Tr nhưng Toà án giải quyết cho ly hôn thì ông Đ đồng ý giao con cho bà Tr được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con và cũng theo nguyện vọng của con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Kim Tr có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu của đương sự phù hợp với khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử hợp lệ lần 2 đối với ông Đ, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Văn Đ.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Kim Tr và ông Nguyễn Văn Đ kết hôn với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa P và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau vào năm 2015 theo giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 27 tháng 4 năm 2015. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Kim Tr và ông Nguyễn Văn Đ được pháp luật công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Xét thấy, bà Nguyễn Kim Tr xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ là vì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Đ không chăm lo cho vợ con, đi làm có tiền là ăn xài cá nhân hết, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau và hiện vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2000 cho đến nay. Về phía ông Đ thì cho rằng bà Tr nói vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2017 và sống ly thân từ năm 2000 cho đến nay là không đúng, vợ chồng chỉ sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi với nhau và cũng do 01 phần là có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế. Xét thấy, mâu thuẫn không lớn, có thể hàn gắn hôn nhân và ông Đ còn tình cảm với bà Tr nên muốn được tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với bà Tr, cho nên ông Nguyễn Văn Đ không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Kim Tr.

Hội đồng xét xử thấy rằng, bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập xét xử hợp lệ lần 2 đối với ông Đ, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không lý do, từ đó cho thấy ông Đ cũng không có thiện chí mong muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân giữa bà Tr với ông Đ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà Tr với ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Kim Tr. Bà Nguyễn Kim Tr được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Kim Tr xác định có 01 người con tên Nguyễn Nhã P, sinh ngày 06/9/2016 (nữ), hiện sống chung với bà Tr. Khi ly hôn bà Nguyễn Kim Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con. Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình thì con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con, Tòa án đã làm việc trực tiếp với cháu Nguyễn Nhã P thì cháu Nguyễn Nhã P có nguyện vọng sống chung với mẹ nên Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của cháu Nguyễn Nhã P. Do đó, giao con tên Nguyễn Nhã P, sinh ngày 06/9/2016 (nữ) cho bà Nguyễn Kim Tr được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Ông Nguyễn Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Tuy nhiên, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), người khởi kiện yêu cầu ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án có chấp nhận hay không chấp chận cho ly hôn đều phải chịu án phí nên bà Nguyễn Kim Tr phải chịu nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Kim Tr. Bà Nguyễn Kim Tr được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Kim Tr nuôi dưỡng và chăm sóc 01 người con tên Nguyễn Nhã P, sinh ngày 06/9/2016 (nữ).

Ông Nguyễn Văn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Kim Tr phải chịu nộp án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Kim Tr có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019095 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, không phải nộp tiếp.

“Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ