- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Võ Tuấn S ly hôn chị Dương Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2024/ST - HNGĐ Ngày 30 – 5 - 2024. V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lộc Văn Việt, bà Phạm Thị Anh.
Thư ký phiên tòa: Ông Ngân Mai Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Võ Tuấn S, sinh năm 1996
Bị đơn: Chị Dương Thị B, sinh năm 1994
Đều có địa chỉ: Khối A/B thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Anh S có mặt, Chị B vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa anh Võ Tuấn S trình bày: Anh với chị Dương Thị B kết hôn với nhau vào ngày 19/4/2044 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh và Chị B sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, đến tháng 6 năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ, chồng không tôn trọng nhau, thường xuyên xẩy ra cái vã. Việc vợ, chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên nhủ, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn chị Dương Thị B.
Về con chung: Anh và chị Dương Thị B có 01 người con chung với nhau là Võ Trâm A, sinh ngày 13/9/2022. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu Chị B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay anh và chị Dương Thị B không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập chị Dương Thị B nhiều lần, nhưng Chị B không có mặt vì vậy Tòa án đã niêm yết thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các thủ tục tố tụng liên quan đến vụ án tại Nhà văn hóa khối A/B và UBND thị trấn Con Cuông để chị Dương Thị B biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm chị Dương Thị B vắng mặt và không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho anh Võ Tuấn S được ly hôn chị Dương Thị B, giao con chung cho anh Võ Tuấn S nuôi dưỡng, về tài sản Anh S không yêu cầu nên không xem xét, Anh S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 20/5/2024 bị đơn chị Dương Thị B vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án đã niêm yết Quyết định hoãn phiên toà, trong Quyết định hoãn phiên tòa, Tòa án có ấn định thời gian mở lại phiên tòa để Chị B biết nhưng Chị B vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị Dương Thị B là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Võ Tuấn S và chị Dương Thị B có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do các bên không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau, thường xuyên xẩy ra cãi vã, theo Anh S việc vợ chồng mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, nay Chị B bỏ đi đâu anh không liên lạc được. Xét tình cảm vợ chồng giữa anh Võ Tuấn S và chị Dương Thị B thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Võ Tuấn S là có căn cứ.
Về con chung: Anh Võ Tuấn S và chị Dương Thị B có 01 người con chung với nhau là Võ Trâm A, sinh ngày 13/9/2022. Nay ly hôn Anh S có nguyện vọng được nuôi con. Xét nguyện vọng của Anh S là hợp lý, hơn nữa chị Dương Thị B hiện không có mặt tại địa phương. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu Trâm Anh. Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Trâm Anh cho Anh S trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Võ Tuấn S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Anh Võ Tuấn S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét và hiện nay Anh S không nợ một tổ chức hay cá nhân nào. Nếu sau nay chị Dương Thị B có khởi kiện thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Về án phí: Anh Võ Tuấn S phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; các Điều 81, 82, 83 và Điều 84, của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Võ Tuấn S ly hôn chị Dương Thị B.
Về con chung: Giao cháu Võ Trâm A, sinh ngày 13/9/2022 cho anh Võ Tuấn S nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trâm Anh đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Dương Thị B có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Võ Tuấn S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí Anh S đã nộp 300.000 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000603 ngày 26/3/2024. Anh Võ Tuấn S đã nộp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND thị trấn Con Cuông; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |