vanban.org

Bản án 89/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn P- Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST
Ngày : 05/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Liên

2. Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận

Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Công Lữ - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn P; sinh năm: 1984 tại Hà Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn

H, xã D, huyện D, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: A H, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; vợ: Lê Đình Vân T, sinh năm 1983; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ tạm giam: Từ ngày 04/4/2024 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Nguyễn Phước H, sinh năm 1986 (chết ngày 24/6/2022 )

Những người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Phước H: Bà Tiết

Kim H1, sinh năm 1973.

Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: A N, thị trần P1, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 21/6/2022, Trần Văn P điều khiển xe máy

hiệu Piaggio Vespa, biển số 59G1-579.99 trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn 166mg/100ml, lưu thông trên Đường C hướng từ đường C về đường N, quận T cách vị trí va chạm giao thông khoảng 15 mét, P thấy có 01 người điều khiển xe máy đi từ trong hẻm rẽ phải ra Đường C, P điều khiển xe máy lách sang bên trái, lấn sang chiều đường ngược lại, do trời mưa nhỏ và ban đêm bị hạn chế tầm nhìn nên P không nhìn thấy xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 75F1-914.25 do anh Nguyễn Phước H điều khiển theo chiều ngược lại, P tiếp tục điều khiển xe máy đi không đúng phần đường quy định đến trước địa chỉ số F đường C, phường A, quận T thì xảy ra va chạm với xe máy do anh Nguyễn Phước H điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại. Sau tai nạn giao thông anh Nguyễn Phước H và Trần Văn P bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T3 đến 02 giờ 35 phút ngày 24/6/2022 anh H đã tử vong.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 21/6/2022 ghi nhận:

“Tình trạng hiện trường: Hiện trường có sự xáo trộn một phần do sau tai nạn lái xe máy biển số 75F1 – 914.25 và lái xe máy biển số 59G1 – 579.99 bị thương đã được đưa đi cấp cứu. Nơi xảy ra tai nạn là đường thẳng trước số F Đường C, Phường A, quận T. Đường C12 rộng 5,5m được trải nhựa bằng phẳng được áp dụng cho 02 chiều xe lưu thông. Hiện trạng đoạn đường nơi xảy ra tai nạn có mật độ tham gia giao thông bình thường, không có hệ thống cọc tiêu biển báo hiệu, chướng ngại vật. Trụ điện CTH 15 bên lề phải hướng từ đường N về đường C được xác định làm điểm mốc, mép lề đường bên phải hướng từ đường N về đường C”.

Vị trí xe máy biển số 75F1-914.25 sau tai nạn ngã đổ về bên phải đầu xe

hướng về đường C đuôi xe hướng về đường N. Trục bánh trước đo vào lề chuẩn có khoảng cách 01m, trục bánh sau đo vào lề chuẩn có khoảng cách 0,7m.

Vết máu nạn nhân kích thước 30 x 35cm, tâm vết máu tại mép lề chuẩn.

Đo từ tâm vết máu đến trục bánh sau xe máy biển số 75F1-914.25 có khoảng cách 1,4m.

Vị trí xe máy biển số 59G1–579.99 sau tai nạn ngã đổ về bên phải đầu xe

hướng ra đường, đuôi xe hướng vào lề chuẩn, trục bánh trước đo vào lề chuẩn có khoảng cách 2,7m, trục bánh sau đo vào lề chuẩn có khoảng cách 2,1m, khoảng cách giữa 02 xe đo từ trục bánh sau xe máy biển số 75F1-914.25 đến trục bánh sau xe máy biển số 59G1 – 579.99 có khoảng cách là 2,2m.”

Tại biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông lập ngày

24/6/2022 ghi nhận:

“Dấu vết trên xe máy biển số 59G1 – 579.99: Đầu tay phanh phía trước

bên phải có vết bào mòn kim loại có kích thước 1,5m x 1,5m; Bửng chắn gió bên phải có vết trầy nhựa có kích thước 5 x 37cm; Mặt ngoài ốp bể để chân phía trước bên phải có vết bào mòn kim loại có kích thước 9 x 60cm; Ốp thân xe phía sau bên phải có vết trầy kim loại có kích thước 16 x 20cm; Hộp để đồ phía trước bị bung nắp đậy, mặt bên trong bị bể; Mặt trước và chắn bùn bị trầy nhựa, thụng móp chiều hướng từ trước về sau có kích thước 20 x 23cm; Gương chiếu hậu bên trái bị thụng móp, xô lệch từ trước về sau, từ trái qua phải; Bửng chắn gió bên trái bị thụng móp chiều hướng từ trước về sau, từ trái qua phải có kích thước 14 x 18cm, điểm cao nhất cách mặt đất 98cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 57cm; Đèn xi nhan phía trước bên trái bị bể; Mặt sau bứng chắn gió bên trái bị nứt có kích thước 1,1 x 1,5cm; Ốp phuộc nhún phía trước bên trái bị gãy rời ra khỏi thân xe. Hệ thống phanh, ga, số, đồng hồ, đèn, còi, gương có trang bị. Sau tai nạn xe hư hỏng không kiểm tra được hiệu lực. Tình trạng phương tiện: Xe hư hỏng nhẹ”.

Dấu vết trên xe máy biển số 75F1-914.25:

“Mặt ngoài ốp nhựa phía trước đầu xe có vết trầy nhựa có kích thước 6x7

cm; Đầu tay phanh phía trước bên phải có vết bào mòn kim loại có kích thước 1,5 x 1,5cm; Chụp tay cầm lái phía trước bên phải có vết bào mòn cao su màu đen có kích thước 1,5 x 2cm; Cạnh mặt nạ phía trước bên phải có vết bào mòn nhựa kích thước 4,5 x 17cm; Ốp thân xe phía trước bên phải bị bung hở ngàm chiều hướng từ trong ra ngoài; Vành kim loại xe phía trước bị bào mòn kim loại nơi đây còn dính lớp mùn màu trắng có kích thước 0,5 x 20cm; Điểm gần nhất cách tâm trục bánh trước bên phải 23,5cm; điểm xa nhất cách tâm trục bánh trước bên phải 24cm; Mặt ngoài chân phanh bên phải có vết bào mòn kim loại 1 x 1,3cm; Ốp bên ngoài ống xả có vết trầy nhựa kích thước 7 x 41cm; Gương chiếu hậu bên trái bị bể rơi ra khỏi thân xe; Phuộc nhún phía trước bên trái bị cong chiều hướng từ trước về sau từ trái qua phải; Ốp thân xe phía trước bên trái bị bung hở ngàm chiều hướng từ trong ra ngoài; Vành kim loại bên trái bị bể có kích thước 4 x 21cm, điểm gần nhất cách tâm trục bánh trước bên trái 22cm, điểm xa nhất cách tâm trục bánh trước bên trái 23cm; Cần số bị cong chiều hướng từ trước về sau, từ trái qua phải; Gác để chân phía trước bên trái bị cong chiều hướng từ trước về sau. Hệ thống phanh, ga, số, đồng hồ, đèn, còi, gương có trang bị. Sau tai nạn xe hư hỏng không kiểm tra được hiệu lực.”

Tại bản Kết luận giám định số 6034/KL-KTHS ngày 22/11/2022 của

Phòng K (PC09) - Công an Thành phố H kết luận:

1. Dấu vết trượt xước ở cung trước chắn bùn trước cửa xe máy biển số

59G1-579.99 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước ở đầu cần sang số của xe máy biển số 75F1-914.25 có chiều từ trước về sau.

2. 02 dấu vết trượt xước, mất sơn màu xám ở cung trước chắn bùn trước

và 02 (hai) dấu vết trượt xước, mất sơn màu xám ở bên trái ốp gầm xe của xe máy biển số 59G1 - 579.99 có chiều từ trước về sau phù hợp với 02 dấu vết trượt xước, bám chất màu xám (dạng sơn) ở để chân trước bên trái của xe máy biển số 75F1-914.25 có chiều từ trước về sau.

3. Dấu vết trượt xước, mất sơn màu xám ở cung trước chắn bùn trước của

xe máy biển số 59G1 - 579.99 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, bám chất màu xám (dạng sơn) ở để chân trước bên trái của xe máy biển số 75F1-914.25 có chiều từ trước về sau.

4. Dấu vết trượt xước, bám chất màu đen (dạng sơn) ở khớp nối phuộc

trước của xe máy biển số 59G1 - 579.99 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết hằn, trượt xước ở nan hoa bánh trước của xe máy biển số 75F1-914.25 có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh xe.

5. Không đủ cơ sở kết luận vị trí va chạm đầu tiên giữa xe máy biển số

59G1 - 579.99 và xe máy biển số 75F1-914.25 khi xảy ra tai nạn.

6. Khi xảy ra tai nạn xe máy biển số 75F1-914.25 chuyển động trên

đường C theo hướng từ đường N đi đường C, xe máy biển số 59G1 - 579.99 chuyển động theo hướng ngược lại.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 3676-22/KL-KTHS ngày

22/7/2022 của Phòng K (PC09) - Công an Thành phố H kết luận: Nguyễn Phước H chết do chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt; Trong máu không tìm thấy ma túy; Trong máu và chất chứa dạ dày không phát hiện các chất độc thường gặp.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Bệnh viện T3 đối với

Trần Văn P và Nguyễn Phước H có kết quả: Trần Văn P có nồng độ cồn trong máu đạt 166 mg/100ml máu. Nguyễn Phước H có nồng độ cồn trong máu đạt 92,7 mg/100ml máu.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Trần Văn P: 01 xe máy hiệu Piagio Vespa biển số 59G1-

579.99. Kết quả xác minh chủ sở hữu hợp pháp là anh Ngô Tuấn T1, anh T1 đã bán xe máy trên cho Trần Văn P, nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền chủ sở hữu, anh T1 không biết xe máy trên do anh P điều khiển gây tai nạn vào ngày 21/6/2022 (Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng đối với xe máy trên);

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Trần Văn P; 01 giấy đăng ký xe

gắn máy biển số 59G1-579.99 (Tất cả đang lưu hồ sơ vụ án).

- 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 75F1-914.2 và 01 giấy phép lái

xe mang tên Nguyễn Phước H. Kết quả xác minh chủ sở hữu xe là anh Nguyễn Phước H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện gia đình của anh H là chị Tiết Kim H1 (Theo quyết định xử lý vật chứng số 727I ngày 26/4/2024).

- 01 USB ghi nhận hiện trường vụ án (lưu hồ sơ vụ án).

Trách nhiệm dân sự: Trần Văn P đã bồi thường cho gia đình bị hại

Nguyễn Phước H 55.000.000 đồng, đại diện gia đình anh H là bàTiết Kim H1 đã nhận và không có yêu cầu gì khác.

Quá trình điều tra, Trần Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm quy

định an toàn giao thông đường bộ như trên.

Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKS-TB ngày 14 tháng 5 năm 2024, Viện

kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, khoản 2 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát tại phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội

của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận và không có yêu cầu gì

khác nên không xem xét.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu,

không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Văn P, Điều tra viên Cơ

quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của họ đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Bản kết luận điều

tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Trần Văn P mặc dù có giấy phép lái xe và biết quy định khi tham gia giao thông không được uống rượu, bia. Tuy nhiên, bị cáo vẫn điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi trong máu có nồng độ cồn 166 mg/100ml, lưu thông không đúng phần đường quy định và thiếu quan sát dẫn đến va chạm với xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 75F1-914.25 do anh Nguyễn Phước H điều khiển, trong máu có nồng độ cồn 92,7mg/100l, lưu thông theo chiều ngược lại, hậu quả làm anh H tử vong tại bệnh viện. Việc để xảy ra tai nạn một phần do lỗi của bị cáo, bị cáo đã cẩu thả khi tham gia giao thông, không tuân thủ các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, người điều khiển phải triệt để chấp hành các quy định của Luật giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông nhưng bị cáo đã không tuân thủ các quy định này, vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019. Bị cáo vượt ẩu và lấn sang làn đường theo chiều ngược lại dẫn đến va chạm với xe máy của anh Nguyễn Phước H và hậu quả làm anh H chết tại bệnh viện. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm hại đến tính mạng của người khác mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.

Tuy nhiên, cũng cần xem xét đến yếu tố lỗi của người bị hại là anh

Nguyễn Phước H tham gia giao thông, điều khiển xe gắn máy khi trong máu có nồng độ cồn là 92,7 mg/100ml máu vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 35 Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019. Do đó, khi xem xét, quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội để xử phạt bị cáo hình phạt phù hợp nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử có xem xét

các tình tiết: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt,

có việc làm ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, có thể tự cải tạo bản thân để trở thành công dân tốt cho xã hội, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Phước H có cha mẹ là ông

Nguyễn Tấn Đ và bà Trương Thị T2 đều đã chết. Ông H không có vợ, con, chỉ có bà Tiết Kim H1 là chị ruột, ngoài ra không còn anh chị em nào khác. Như vậy, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Tiết Kim H1. Gia đình của bị hại Nguyễn Phước H đã nhận tiền hỗ trợ mai táng và tiền bồi thường thiệt hại từ bị cáo Trần Văn P, không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng:

- Đối với 01 xe máy hiệu Piagio Vespa biển số 59G1-579.99 và 01 giấy

đăng ký xe gắn máy biển số 59G1-579.99 thu giữ của Trần Văn P. Kết quả xác minh chủ sở hữu hợp pháp là anh Ngô Tuấn T1, sinh năm 1982; địa chỉ: 4 N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua làm việc, anh T1 khai đã bán xe máy trên cho Trần Văn P vào năm 2019, nhưng chưa làm thủ tục chuyển quyền chủ sở hữu, anh T1 không biết xe máy trên do anh P điều khiển gây tai nạn vào ngày 21/6/2022, anh không có yêu cầu gì với chiếc xe này. Xét xe máy này là phương tiện phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu xe kèm giấy đăng ký nộp Ngân sách Nhà nước;

- Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 75F1-914.2 và 01 giấy

phép lái xe mang tên Nguyễn Phước H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện gia đình của anh H là chị Tiết Kim H1 (Theo quyết định xử lý vật chứng số 727I ngày 26/4/2024). Cơ quan điều tra đã trả lại xe và giấy tờ cho người nhà ông H. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu nại nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

- Đối với 01 USB ghi nhận hiện trường vụ án, đang lưu cùng hồ sơ vụ án

là chứng cứ của vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục lưu củng vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ khoản 2 Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia

giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo: Trần Văn P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời

gian thứ thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Văn P cho Ủy ban nhân dân phường A, quận T, Thành

phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2] Về vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe máy hiệu Piagio Vespa biển

số 59G1-579.99 và 01 (một) giấy đăng ký xe gắn máy biển số 59G1-579.99.

(Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 109/PNK ngày 30/5/2024

của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T).

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình

sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

(Đã giải thích về chế định án treo)

Cỡ chữ