vanban.org

Bản án 89/2024/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Văn Tùng trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST
Ngày 30-12-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƢƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Đào là Bí thư đoàn thanh niên thị trấn Giang Tiên; bà Nịnh Thị Tám là công chức Tư pháp hộ tịch xã Phú Đô.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mạnh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tốn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lƣơng Văn T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 08/10/2007 (tính đến ngày phạm tội được 16 tuổi 09 tháng 08 ngày); Nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do.; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Họ tên bố: Lương Văn Hùng. Sinh năm 1979; Họ tên mẹ: Hoàng Thị Tư, sinh năm 1988. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang tại ngoại tại địa phương ( Có mặt).

- Người đại diện cho bị cáo: Chị Hoàng Thị Tư, sinh năm 1988 (là mẹ bị cáo); Địa chỉ: Xóm Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lưu Bình Dương thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên

- Bị hại: Anh Hoàng Văn Lục, sinh năm 1981.

Địa chỉ : Xóm Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

- Người làm chứng:

1. Cháu Trần Thanh Long, sinh năm 2008.

Địa chỉ: Xóm Tiên Thông, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)

Người đại diện cho Long: Anh Trần Văn Sơn, sinh năm 1984 là bố đẻ của Long, Địa chỉ: Xóm Tiên Thông, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.(Vắng mặt)

2. Cháu Cao Việt Cường, sinh năm 2006; Địa chỉ: Xóm Làng Chảo, Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên.(Vắng mặt)

Người đại diện cho Cường là anh Cao Văn Mùi, sinh năm 1979 là bố đẻ của Cường. Địa chỉ: Xóm Làng Chảo, Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

3. Cháu Hoàng Hoài Nam, sinh năm 2007. Địa chỉ: Xóm Cọ 1, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

Người đại diện cho Nam là anh Hoàng Văn Thắng, sinh năm 1980 là bố đẻ Nam ; Địa chỉ: Xóm Cọ 1, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

4. Cháu Hoàng Thanh Tùng, sinh năm 2007. Địa chỉ: Xóm Làng Mạ, Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

Người đại diện cho Tùng là chị Lê Thị Hằng, sinh năm 1982 là mẹ đẻ của Tùng; Địa chỉ: Xóm Làng Mạ, Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Văn T (sinh ngày 08/10/ 2007), ở cùng nhà với bác ruột là ông Hoàng Văn Lục tại xóm Đ, xã Đ, huyện Ph, Thái Nguyên. Khoảng 23 giờ ngày 20/7/2024, Tùng gặp nhóm bạn gồm Cao Việt Cường (sinh năm 2006), Trần Thành Long (sinh năm 2008), Hoàng Hoài Nam (sinh năm 2007) Hoàng Thanh Tùng (sinh năm 2007) đều trú tại huyện Phú Lương, tại quán chơi điện tử khu vực cổng trường THPT Phú Lương, cả nhóm đánh điện tử đến khoảng 01 giờ ngày 21/7/2024, tại đây Cường rủ cả nhóm đi đến nhà anh Lục mục đích trộm cắp thóc để mang bán lấy tiền chơi điện tử và chi tiêu cá nhân, Lương Văn T và cả nhóm đồng ý rồi đi bằng 02 xe mô tô của Nam và Hoàng Thanh Tùng đến khu vực nhà văn hoá xóm Đồng Nghè 1, xã Động Đạt ngồi nói chuyện, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 21/7/2024, khi thấy nhà ông Lục đã ngủ say nên Long huýt sáo ra hiệu để vào nhà ông Lục trộm cắp thóc; Nam và Hoàng Thanh Tùng đi xe mô tô ra khu vực ngã tư đường liên xóm Đồng Nghè 1, xã Động Đạt cách nhà ông Lục khoảng 200m để cảnh giới và để chở thóc đi tiêu thụ. Long, Tùng và Cường đi vào nhà ông Lục. Long ngồi ở trước phòng ngủ của Tùng để cảnh giới, Cường một mình đi vào nhà bếp của gia đình ông Lục phát hiện thấy có một số bao thóc đã phơi khô, Cường lần lượt vác 05 bao thóc đi ra ngoài để ở tường bao tiếp giáp với đường bê tông liên xóm. Sau đó gọi Nam và Hoàng Thanh Tùng đi xe mô tô đến chở thóc, Tùng chở Nam và 02 bao thóc, còn Cường điều khiển xe mô tô của Nam chở 03 bao, đến khu vực đường bê tông thuộc tổ dân phố Tràng Học, thị trấn Đu, huyện Phú Lương cất giấu, rồi quay lại đón Long và cùng nhau đến quán Internet tại khu vực thị trấn Đu, huyện Phú Lương chơi.

Buổi sáng cùng ngày, anh Lục phát hiện gia đình bị trộm cắp mất 05 bao tải thóc đã phơi khô để ở nhà bếp, nên đã làm đơn trình báo với Công an xã Động Đạt để xác minh làm rõ.

Đến khoảng 5 giờ 00 phút ngày 21/07/2024. Do sợ bị anh Lục phát hiện nên Tùng cùng với Cường, Long, Nam và Hoàng Thanh Tùng vận chuyển 05 bao tải thóc trả lại cho gia đình anh Lục. Sau khi phát hiện bị mất 05 bao thóc, anh Lục đã trình báo Công an xã Động Đạt, Công an xã Động Đạt đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ, vật chứng thu giữ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương để điều tra theo thẩm quyền. Sau khi cân xác định khối lượng của 05 bao tải thóc, loại thóc “Q5” các đối tượng đã trộm cắp của gia đình anh Lục có tổng khối lượng là 148kg (Một trăm bốn mươi tám ki-lo-gam)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1080/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2024, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Phú Lương kết luận: 05 bao thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5”, tại thời điểm bị các đối tượng chiếm đoạt có giá trị là: 148kg x 9.000đ = 1.332.000 đồng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Ngoài lần trộm cắp tài sản (thóc khô) của gia đình anh Lục như trên, trong các ngày 16/7/2024 và ngày 18/7/2024, Lương Văn T cùng với Cao Việt Cường; Trần Thanh Long đã 02 lần trộm cắp thóc đã phơi khô của nhà anh Lục mang bán lấy tiền chi tiêu, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Đêm 15/7/2024, Trần Thanh Long đến nhà Tùng chơi, khoảng 01 giờ sáng ngày 16/7/2024, khi gia đình ông Lục đã ngủ hết, Tùng rủ Long trộm cắp thóc của gia đình anh Lục mang bán lấy tiền, Long đồng ý và đứng ở hiên nhà để cảnh giới. Tùng đi vào gian nhà bếp nơi ông Lục để thóc đã phơi khô trộm cắp 01 bao thóc có khối lượng 30 kg rồi cùng Long vận chuyển xuống khu vực thị trấn Đu, huyện Phú Lương, bán cho một người nam giới không quen biết được 200.000 đồng (hai trăm nghìn- VNĐ). Số tiền này cả hai chơi điện tử và chi tiêu hết.

Lần thứ hai: Đêm 17/7/2024, Cao Việt Cường một mình đi bộ đến nhà Tùng chơi điện tử, khoảng 01 giờ ngày 18/7/2024 Tùng rủ Cường trộm cắp thóc của gia đình ông Lục mang đi bán lấy tiền, Cường đồng ý. Liền đó Tùng và Cường đi xuống gian nhà bếp nơi gia đình anh Lục cất giữ thóc để trộm cắp thóc. Tùng dùng tay đẩy 02 bao thóc ra để Cường vác 02 bao thóc ra cổng cất giấu. Cường đi bộ về nhà lấy xe mô tô của gia đình đến vận chuyển thóc đi bán. Tùng, Cường để 02 bao thóc lên xe mô tô rồi Cường một mình điều khiển xe mô tô chở 02 bao thóc vừa trộm cắp được đến khu vực thị trấn Đu, huyện Phú Lương, bán cho một người nam giới không quen biết được 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn- VNĐ), số tiền này Tùng và Cường đã chi tiêu cá nhân hết. Xác định mỗi bao thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5” Tùng và Cường; Long đã trộm cắp của nhà anh Lục có khối lượng là 30kg/bao, tổng khối lượng của 03 bao thóc là 90 kg, tại thời điểm các đối tượng chiếm đoạt có giá là 9.000 đồng/kg.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1306/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 9 năm 2024, của Hội đồng định giá tài sản tố tụng huyện Phú Lương kết luận:

+ Giá trị của 01 bao thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5”, có khối lượng 30kg là: 30kg x 9.000đ = 270.000 đồng.

+ Giá trị của 02 bao thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5”, có khối lượng 60kg là: 60kg x 9.000đ = 540.000 đồng. (BL: 114, 119).

Như vậy: Tổng trị giá tài sản là thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5”, Lương Văn T cùng các đối tượng đã chiếm đoạt của nhà ông Hoàng Văn Lục trong các ngày 16; 18 và ngày 21/7/2024 là: 2.142.000 đồng (hai triệu một trăm bốn mươi hai nghìn- VNĐ)

Đối với 05 bao thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5” có tổng khối lượng 148kg. Ngày 20/8/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Phú Lương đã trả lại cho bị hại là ông Hoàng Văn Lục quản lý, sử dụng.

Ngày 13/10/2024, Lương Văn T đã tác động chị Hoàng Thị Tư là mẹ ruột của Lương Văn T tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho ông Lục số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn - VNĐ), ông Lục đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác, và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tùng.

Quá trình điều tra, Lương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nêu trên, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ; kết luận định giá tài sản cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: là 05 bao thóc đã được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu tại giai đoạn điều tra.

Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKSPL ngày 26/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phú Lương đối với bị cáo Lương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, Đề nghị:

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90 và Điều 91 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn T. Xử phạt bị cáo Lương Văn T mức án từ 9 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận, thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.

Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Lưu Bình Dương trình bày: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa truy tố bị cáo Tùng về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại thời điểm bị cáo phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội để quyết định mức hình phạt và hình thức cải tạo đối với bị cáo cho phù hợp. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất và được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Phú Lương; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Do không có tiền chi tiêu nên trong các ngày 16, 18 và 21/7/2024 tại xóm Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên, Lương Văn T cùng Trần Thanh Long, Cao Việt Cường, Hoàng Hoài Nam và Hoàng Thanh Tùng đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là thóc đã phơi khô của gia đình anh Hoàng Văn Lục, mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 01 giờ ngày 16/07/2024, Lương Văn T cùng với Trần Thanh Long trộm cắp 01 bao thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5”, có khối lượng là 30kg mang bán cho người không quen biết được 200.000 đồng, qua định giá xác định trị giá 270.000 đồng.

Lần 2: Khoảng 01 giờ ngày 18/07/2024, Lương Văn T, Cao Việt Cường trộm cắp 02 bao thóc đã phơi khô, loại thóc “Q5”, tổng khối lượng là 60 kg mang bán cho người không quen biết được 400.000 đồng. Căn cứ lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác, cơ quan điều tra đã tiến hành định giá đối với 02 bao thóc, kết quả xác định trị giá là 540.000 đồng.

Lần 3: Khoảng 01 giờ ngày 21/07/2024, Lương Văn T cùng Trần Thanh Long, Cao Việt Cường, Hoàng Hoài Nam và Hoàng Thanh Tùng trộm cắp của anh Hoàng Văn Lục 05 bao thóc, loại “Q5”, tổng khối lượng là 148 kg của gia đình anh Hoàng Văn Lục mang bán, khi chưa kịp bán thì bị phát hiện, qua định giá xác định tổng trị giá của 148 kg thóc khô là 1.332.000 đồng. Tổng trị giá tài sản thiệt hại là 2.142.000 đồng.

Đối với 03 bao thóc mà Lương Văn T và Trần Thanh Long, Cao Việt Cường trộm cắp của gia đình ông Lục vào các ngày 16 và 18 tháng 7 năm 2024, mặc dù các đối tượng đã bán cho người không quen biết nên cơ quan điều tra không thu hồi được. Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với lời khai của bị hại. Tại phiên tòa khi được hỏi về đặc điểm, kích thước các bao thóc mà bị cáo và các đối tượng đã trộm cắp vào các ngày 16 và 18/7/2024 thì bị cáo đều khai là 03 bao thóc có kích thước tương đồng với 05 bao thóc mà các đối tượng trộm cắp ngày 21/7 tại gia đình ông Lục, mỗi bao có trọng lượng là 30 kg. Bị cáo đã được cơ quan điều tra thông báo kết quả định giá tài sản đối với 03 bao thóc đó, bị cáo hoàn toàn nhất trí, không có khiếu nại gì. Người đại diện của bị cáo cũng không có ý kiến gì. Do vậy, kết quả định giá tài sản đối với các bao thóc là hợp pháp.

Hành vi nêu trên của bị cáo Tùng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi của mình nhưng cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây bức xúc cho nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy rằng:

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo”; Lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi bị phát hiện, bị cáo đã tác động người thân bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; Bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt tương xứng đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét tính chất nghiêm trọng của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lại là người chưa thành niên nên cần áp dụng các Điều 65, 90, 91, 98 và 101 Bộ Luật hình sự để đảm bảo đúng chính sách hình sự của nhà nước ta đối với người chưa thành niên. Hơn nữa bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần buộc bị cáo cải tạo tại địa phương vẫn đảm bảo mục đích giáo dục và đảm bảo tính dăn đe phòng ngừa chung đối với xã hội.

Trong vụ án này có Hoàng Thanh Tùng; Hoàng Hoài Nam; Trần Thanh Long đã 02 lần trộm cắp tài sản, qua định giá xác định tổng trị giá tài sản thiệt hại là dưới 02 triệu đồng, Long đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, Tuy nhiên, Long chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, Nam và Hoàng Thanh Tùng không có tiền án, tiền sự. Cao Việt Cường đã thực hiện 02 lần trộm cắp tài sản, tổng trị giá tài sản thiệt hại là dưới 02 triệu đồng, ngày 07/3/2023 Cường bị TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 07/4/2024. Tuy nhiên, khi bị kết án Cường là người chưa thành niên nên được coi là không có án tích. Do vậy, hành vi của Hoàng Thanh Tùng, Nam, Long và Cường không cấu thành tội phạm, Công an huyện Phú Lương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những đối tượng trên là phù hợp.

Đối với người đã mua tài sản là thóc đã phơi khô của Tùng trộm cắp trong các ngày 16 và 18/7/2024 tại khu vực thị trấn Đu, do Tùng và các đối tượng đều không biết rõ, họ, tên của những người này nên CQĐT không có cơ sở để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Để đảm bảo cho việc thi hành án, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo, buộc bị cáo không được phép đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi chấp hành án là cần thiết. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú để quản lý, theo dõi theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vật chứng của vụ án: Về các phương tiện xe mô tô mà bị cáo Tùng cùng các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, qua điều tra xác định các đối tượng đã tự ý lấy của gia đình làm phương tiện, gia đình không được biết, nên Cơ quan CSĐT không thu giữ, xử lý là phù hợp.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên trong lời luận tội và của người bào chữa tại phần tranh luận về tội danh, về điều luật áp dụng, hình phạt bổ sung, về án phí và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về căn cứ pháp luật

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 98 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự;

- Áp dụng các Điều 123; 136 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lương Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

3. Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Lương Văn T 9 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

5. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Ra quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi chấp hành án;

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Đ, xã Đ, huyện Ph, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

6. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, có mặt bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Vắng mặt bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND H. Phú Lương;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- Công an huyện Phú Lương;

- Chi cục THADS H. Phú Lương.

- Bị cáo;

- Bị hại;

- UBND xã Động Đạt huyện Phú Lương;

- Lưu hồ sơ.

Tạ Xuân Trà THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ