- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày: 26-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chinh
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Hoài Phong
2/ Bà Châu Bích Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Phục – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Công C. Tên gọi khác: Không có, sinh ngày 06/9/1994 tại tỉnh TG.
Nơi thường trú: ấp T, xã NB, huyện CT, tỉnh TG; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ tên cha: Huỳnh Văn H; Họ tên mẹ: Ngô Thị L; Bị cáo có vợ tên Tống Thị Kiều M (đã ly hôn) và có 02 người con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Lê Văn T1, sinh năm 1976, địa chỉ: ấp T, xã NB, huyện CT, tỉnh TG (có mặt).
* Người làm chứng: Trần Văn T2, sinh năm: 1972, địa chỉ: ấp T, xã NB, huyện CT, tỉnh TG (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 22/10/2023 bị cáo tổ chức uống rượu bia tại nhà thuộc ấp T, xã NB, huyện CT, tỉnh TG cùng anh Lê Văn T1, sinh năm 1976; Trần Văn T2, sinh năm 1972, cùng thường trú tại ấp T, xã NB, huyện CT, tỉnh TG và anh Q (chưa rõ họ, địa chỉ). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, anh T2 và Q ra về, lúc này giữa bị cáo và anh T1 xảy ra cự cải nên anh T1 đi về nhà. Theo bị cáo khai, do trong người có uống rượu bia nên khi xảy ra cự cãi xong, anh T1 đi về thì bị cáo bực tức chạy xuống nhà sau lấy 01 con dao (loại dao yếm), cán gỗ dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 29cm để trên kệ dao chạy theo anh T1. Khi anh T1 vừa vào khuôn viên nhà đang đóng cửa rào thì bị cáo đứng đối diện cầm con dao ở tay phải chém từ trên xuống, anh T1 đưa tay phải lên đỡ thì trúng vào cổ tay phải gây thương tích, bị cáo thấy tay của anh T1 chảy nhiều máu nên cầm con dao về nhà, anh T1 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh TG.
Thu giữ, xử lý vật chứng: 01 (một) con dao cán gỗ dài 14cm, đường kính cán dao 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 29cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 07cm, nơi hẹp nhất là 3,5cm do bị cáo giao nộp.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 441-2023/KLTTCT-TTPY ngày 19/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh TG đối với Lê Văn T1, kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định: Sẹo vết thương trùng sẹo vết mổ từ mặt trước cổ tay phải đến mặt sau cổ tay phải; Sẹo mổ mặt lòng bàn tay phải; Sẹo mổ mặt lòng bàn tay phải sát cổ tay phải; Tổn thương động mạch quay phải, đã khâu nối kết quả tốt; Tổn thương nông thần kinh quay phải, đã khâu nối; Gãy 1/3 dưới xương quay phải, đứt gân gấp ngón cái dài, gân gấp cổ tay quay phải, đã điều trị di chứng hạn chế gấp cổ tay phải.
- Kết quả cận lâm sàng:
+ Kết quả X quang: Gãy đầu dưới xương quay phải;
+ Kết quả đo điện cơ: Theo dõi tổn thương nhánh cảm giác dây thần kinh quay phải vị trí vết thương (đã phẩu thuật).
2. Kết luận:
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Văn T1 là 27%.
- Kết luận khác: Xác định vật gây thương tích:
+ Sẹo vết thương trùng sẹo vết mổ từ mặt trước cổ tay phải đến mặt sau cổ tay phải. Tổn thương động mạch quay phải, đã khâu nối kết quả tốt. Tổn thương nông thần kinh quay phải, đã khâu nối. Gãy 1/3 dưới xương quay phải, đứt gân gấp ngón cái dài, gân gấp cổ tay quay phải, đã điều trị di chứng hạn chế gấp cổ tay phải. Thương tích do vật sắc gây nên.
+ Sẹo mổ mặt lòng bàn tay phải. Sẹo mổ mặt lòng bàn tay phải sát cổ tay phải. Thương tích do phẫu thuật gây nên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh Công C đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị cho bị hại anh Lê Văn T1 số tiền 50.000.000đồng; bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền công lao động số tiền là 30.000.000đồng. Bị hại không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSCT ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Huỳnh Công C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng và không thay đổi. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình có công với cách mạng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 32, Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Công C từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao cán gỗ dài 14cm, đường kính cán dao 03cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 29cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 07cm, nơi hẹp nhất là 3,5cm.
Về trách nhiệm dân sự: Đã thỏa thuận xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày 22/10/2023, tại ấp T, xã NB, huyện CT, tỉnh TG bị cáo đã có hành vi dùng 01 con dao cán gỗ dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 29cm chém trúng cổ tay phải anh Lê Văn T1 gây thương tích. Xét lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết luận pháp y. Bị cáo chỉ vì mâu thuẩn trong lúc cự cãi với bị hại mà dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, theo kết quả giám định pháp y tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 27%. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Công C phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại, mà còn ảnh hưởng đến khả năng vận động và sức khỏe của bị hại về lâu dài, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân. Do vậy, xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm khắc. Tuy nhiên, để có một mức án phù hợp đối với bị cáo, cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội đã bồi thường, khắc phục hậu quả. Do vậy cần áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem đây là tình tiết giảm nhẹ phần nào mức án cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên bị cáo đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng để phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay.
Về vật chứng: 01 (một) con dao (loại dao yếm) cán gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen. Cán dao dài 14cm, lưỡi dao dài 29cm, nơi rộng nhất lưỡi dao là 07cm, nơi hẹp nhất là 3,5cm, đường kính cán dao 03cm bị cáo dùng làm công cụ để thực hiện hành vi phạm tội và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Công C và bị hại anh Lê Văn T1 cùng thống nhất bị cáo đã bồi thường chi phí điều trị cho bị hại số tiền 50.000.000đồng; bồi thường tiền tổn thất tinh thần, tiền công lao động số tiền là 30.000.000đồng. Bị hại đã nhận xong nên không có yêu cầu gì khác.
Đối với chi phí điều trị sau phẫu thuật tay (mổ ghép gân), tại tòa bị hại đồng ý khi nào điều trị xong có hóa đơn chứng từ sẽ khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác để yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử tách ra không giải quyết trong vụ án này.
Xét quan điểm luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Về hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Công Chuyền phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử: Phạt bị cáo Huỳnh Công C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
2/ Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao (loại dao yếm) cán gỗ, lưỡi bằng kim loại màu đen. Cán dao dài 14cm, lưỡi dao dài 29cm, nơi rộng nhất lưỡi dao là 07cm, nơi hẹp nhất là 3,5cm, đường kính cán dao 03cm.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/4/2024).
3/ Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Huỳnh Công C phải chịu 200.000đồng.
4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Công an huyện Châu Thành; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chinh |