vanban.org

Bản án 89/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 16/09/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 ph m tội “Gây rối trật t công cộng”. X ph t bị cáo Nguyễn Minh H 06 (sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày chấp hành hình ph t. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình s; Điều 17 Bộ luật Hình s; Điều 318 Bộ luật Hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-PT
Ngày: 16/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Phước Hiệu;

Ông Nguyễn Văn Thành;

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Trúc Giang - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 và ngày 16 tháng 9 năm 2024, t i tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét x phúc thẩm công khai v án hình s phúc thẩm th lý số 67/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình s sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Minh H, tên gọi khác: M, sinh năm 1989, t i: Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không, trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Nguyễn Văn L và bà Ph m Thị T; có vợ là bà Lê Thị Kim A (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền s , nhân thân: Không; Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

2. Phạm Văn H1, sinh năm: 1980, t i: Bình Thuận, nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không, trình độ văn hóa: 0/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Ph m Văn T1 (chết) và bà Trần Thị M1 (chết); có vợ là bà Lương Thị H3 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền s , nhân thân: Không; Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

3. Mai Văn H2, sinh năm 1990, t i: Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 03/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Mai Văn X (chết) và bà Nguyễn Thị H4 (chết); có vợ là bà Lê Thị Tuyết V (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền s , nhân thân: Không; Bị cáo có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/11/2023, Nguyễn Minh H (M), sinh năm 1989, trú t i thôn L, xã H, huyện H có kể l i việc cháu Nguyễn Thành Đ (con của Nguyễn Minh H) bị đánh trên xe buýt cho Mai Văn H2, sinh năm 1990, trú cùng thôn nghe. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/11/2023, Nguyễn Minh H đi cắt cỏ cho bò về đến nhà thì thấy Ph m Văn H1, sinh năm 1980, trú cùng thôn ch con đến chơi. Nguyễn Minh H kể cho H1 nghe việc cháu Đ bị đánh trên xe buýt và dùng điện tho i m đo n video hình ảnh cháu Đ bị đánh cho H1 xem. Nguyễn Minh H nói: “con em bị đánh hội đồng trên xe buýt mà tài xế không can ngăn, để con em bị đánh như vậy”, H1 nói: “sao tài xế kỳ lạ vậy, gặp mấy trường hợp này phải can ngăn chứ để vậy lỡ nó nhảy xe thì sao”. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, H thấy xe ô tô buýt biển số 86B-008.95 do anh N đang điều khiển ch y trên tuyến đường ĐT711 hướng Quốc lộ A đi T, trên xe có ch khoảng 25 em học sinh, khi cách nhà của H khoảng 300 mét, H nghĩ đến việc cháu Đ bị đánh mà tài xế N không can thiệp nên điều khiển xe mô tô biển số 86B3-372.57 ch y ra đường ĐT711 hướng đi Quốc lộ A, đến chặn xe ô tô buýt của anh N. Khi xe ô tô buýt của anh N dừng l i, H leo lên xe đến gặp N hỏi: “ủa tại sao chạy xe buýt mà để tụi nhỏ đánh như vậy?”, N nói: “em chạy xe, tụi nó đánh đằng sau, em thắng xe lại can ngăn tụi nó”. H1 nhìn thấy H chặn xe và leo lên xe buýt nên ch y bộ đến xem thì thấy H đang to tiếng ch i Ngã về việc cháu Đ bị đánh nên H1 cũng lên xe cùng với H ch i anh N. H1 nói với Nguyễn Minh H: “mày mở điện thoại ra cho anh coi?”, Nguyễn Minh H trả lời: “điện thoại để ở nhà rồi, không có mở”. Anh N nói với Nguyễn Minh H: “tụi nó đánh thì em can chứ biết làm sao anh”. Nghe anh N trả lời thì H1 nói: “đéo má mày can ra sao mày không báo cho phụ huynh”, Nguyễn Minh H liền to tiếng nói tiếp: “tháng nào tui cũng đóng tiền cho anh nhưng để con tui bị đánh như thế là không được”, anh N nói tiếp: “tụi nó đánh thì em can chứ biết làm sao anh”. Nguyễn Minh H tiếp t c nói: “mày biết bốn năm thằng đánh con tao, tao nóng ruột lắm không?”, vừa nói Nguyễn Minh H xông vào dùng tay đấm liên t c nhiều cái vào đầu và mặt của N và túm tóc Ngã. Cùng lúc này, Mai Văn H2 cũng leo lên xe buýt giúp Nguyễn Minh H để đánh anh N cảnh cáo nên đã đi vòng ra phía sau lưng chỗ anh N ngồi ghế tài xế, dùng tay đấm nhiều cái vào mặt của anh N và dùng tay ôm cổ anh N. Nguyễn Minh H và Mai Văn H2 đánh và kéo anh N ra khỏi ghế, Nguyễn Minh H vừa đánh, kéo và nói: “mày xuống dưới tao biểu, xuống đây”. H1 vừa ch i vừa ôm Nguyễn Minh H can ngăn, lôi kéo không cho đánh Ngã. Số học sinh trên xe nhìn thấy s việc này thì hoảng lo n, sợ, la hét. Khi anh N bị đánh thì bà T2, anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1971 và anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1987 cùng thôn L, xã H can ngăn lôi kéo Nguyễn Minh H và Mai Văn H2 ra và đẩy xuống xe, H1 vẫn đứng trên xe tiếp t c ch i và chỉ mặt anh N nói: “tao nói mày nà, đụ má mày, làm hoảng loạn con người ta”. Sau đó, H1 được anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1971 kéo xuống xe và yêu cầu anh N đóng c a l i ch y đi, anh N liền đóng c a xe gần ghế tài l i thì Nguyễn Minh H ch y ra c a sau tiếp t c lên xe. N điều khiển xe ch y đi thì Nguyễn Minh H tiếp t c la lớn và nhào ra phía trước xe đe dọa yêu cầu dừng xe l i, anh N ch y được khoảng 100 mét thì dừng xe l i m c a xe, số học sinh trên xe hoãng lo n, la hét và xuống khỏi xe. H1 ch y theo Nguyễn Minh H cùng leo lên xe tiếp t c to tiếng ch i t c và đe dọa đòi đánh, giết anh N. Mai Văn H2 cũng ch y theo nhưng không leo lên xe mà đứng dưới nhặt một đo n cây ven đường dài khoảng 40

- 50cm gõ vào c a sổ kính bên hông trái gần chỗ vị trí anh N ngồi và ch i: “đụ má, đéo mẹ”. Sau đó, Mai Văn H2 leo lên bên hông trái xe, chỗ anh N ngồi nói: “đéo má tao ký cái đầu mày bây giờ”. Sau đó, anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1987 và nhiều người ra can ngăn đẩy Nguyễn Minh H và H1 ra khỏi xe ô tô buýt, anh N đóng của xe buýt l i và ch y đi. Đến ngày 15/11/2023, anh Trần Phúc N1 đến Trung tâm y tế thành phố P khám và điều trị.

T i Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 153/KLTTCT-TTPYBT ngày 10/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận về thương tích của Trần Phúc N1 như sau:

- Chấn thương sưng nề vùng thái dương phải đã được điều trị hiện không còn dấu vết. Không đủ cơ s xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể.

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể s d ng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, không đủ cơ s xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Phúc N1 t i thời điểm giám định.

- Không đủ cơ s xác định vật gây thương; Không đủ cơ s xác định chiều hướng l c tác động gây thương.

Vật chứng thu giữ:

- 01 USB 2GB hiệu HP có chứa 08 đo n video clip được ghi l i hình ảnh v việc đánh nhau, gây rối trên xe buýt ngày 14/11/2023 của Nguyễn Minh H, Mai Văn H2 và Ph m Văn H1 được chuyển theo hồ sơ v án.

- Đối với 01 đo n cây gỗ dài khoảng 40 - 50cm mà Mai Văn H2 nhặt được ven đường dùng để gõ c a kính xe ô tô buýt, sau đó Mai Văn H2 đã ném bỏ nên không thu giữ được.

Về dân sự: Sau v việc xảy ra giữa Nguyễn Minh HVăn H2 và ông Trần Phúc N1 đã thỏa thuận bồi thường cho ông N1 với số tiền 10.000.000đồng (bao gồm chi phí điều trị thương tích, ngày công lao động và tổn thất tinh thần). Sau khi nhận đủ số tiền trên, ngày 19/3/2024 ông N1 đã có đơn bãi n i cho ông Nguyễn Minh H, Mai Văn H2 và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 318; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình s năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H (tên gọi khác M) ph m tội “Gây rối trật t công cộng”. X ph t: Nguyễn Minh H (tên gọi khác M) 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 318; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình s năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Ph m Văn H1 ph m tội “Gây rối trật t công cộng”. X ph t: Ph m Văn H1 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 318; Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình s năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Mai Văn H2 ph m tội “Gây rối trật t công cộng”. X ph t: Mai Văn H2 06 (sáu) tháng tù, thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí theo quy định.

Cùng ngày 03 tháng 6 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1 và Mai Văn H2 có đơn kháng cáo xin được hư ng án treo.

T i phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận kháng cáo cho các bị cáo được hư ng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét x áp d ng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình s , không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án hình s sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:

T i phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận hành vi ph m tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ v án, có đủ cơ s xác định: Do bức xúc về việc con của Nguyễn Minh H bị đánh trên xe ôtô buýt trước đó nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/11/2023, khi thấy anh Trần Phúc N1 điều khiển xe ô tô buýt biển số 86B-008.95 trên đường ĐT711 hướng Quốc lộ A đi T, trên xe ch khoảng 25 học sinh, Nguyễn Minh H, Mai Văn H2 và Ph m Văn H1 đã chặn l i và leo lên xe ô tô buýt đe do , ch i bới, la hét lớn tiếng, ôm kéo và dùng tay đánh nhiều cái vào đầu và mặt của anh Trần Phúc N1 gây náo lo n, làm cho số học sinh trên xe sợ, hoảng lo n, la hét, phải xuống xe. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1 và Mai Văn H2 ch i bới, đe dọa và đánh anh N1 trên xe ô tô buýt là nơi công cộng, gây ảnh hư ng xấu đến an ninh, trật t , an toàn xã hội. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc xét x các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 ph m tội “Gây rối trật t công cộng” theo quy định t i khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 xin được hư ng án treo:

- Quá trình điều tra và t i phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Nguyễn Minh H và Mai Văn H2 đã bồi thường toàn bộ thiệt h i cho bị h i và bị h i có đơn bãi n i cho Nguyễn Minh H và Mai Văn H2. Tòa án sơ thẩm áp d ng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình s t i điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình s đối với Nguyễn Minh H và Mai Văn H2; p d ng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình s t i điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình s đối với Ph m Văn H1; Căn cứ nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền s nên Tòa án sơ thẩm đã x ph t bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 mức án 06 tháng tù là phù hợp.

- T i phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 không cung cấp được tình tiết giảm nh mới. Xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi ph m tội, không có cơ s chấp nhận kháng cáo của các bị cáo về việc xin được hư ng án treo.

Từ nhận định trên, xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 xin được hư ng án treo là không có cơ s chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét x phúc thẩm giữ nguyên bản án hình s sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Về án phí hình s phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 phải chịu án phí hình s phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình s .

- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2. Giữ nguyên Bản án hình s sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 29 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2 ph m tội “Gây rối trật t công cộng”.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình s năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017).

- X ph t bị cáo Nguyễn Minh H 06 (sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày chấp hành hình ph t.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017).

- X ph t bị cáo Ph m Văn H1 06 (sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày chấp hành hình ph t.

Căn cứ khoản 1 Điều 318; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình s năm 2015 (s a đổi bổ sung năm 2017).

- X ph t bị cáo Mai Văn H2 06 (sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày chấp hành hình ph t.

2. Về án phí hình s phúc thẩm: p d ng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình s .

Các bị cáo Nguyễn Minh H, Ph m Văn H1, Mai Văn H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình s phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu l c pháp luật, kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu l c pháp luật kể từ ngày tuyên án (16/9/2024).

Cỡ chữ