vanban.org

Bản án 89/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 30/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc S 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/8/2023. Xử phạt bị cáo Bùi Doãn M 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/8/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đắc S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 89/2023/HS-ST
Ngày 30/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Anh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Dung và bà Vũ Thị Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 92/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đắc S; tên gọi khác: không; sinh ngày: 26/5/1989, tại Thuỷ Nguyên, Hải Phòng; Nơi cư trú: thôn 2, xã Minh T, huyện Thuỷ N, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Đắc L (đã chết) và bà Trần Thị V; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: ngày 12/10/2020, bị Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 13/01/2023, chấp hành xong quyết định. Bị cáo bị bắt quả tang và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Doãn M, (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 04/12/1992 tại Thủy Nguyên, Hải Phòng; nơi cư trú: thôn 8, xã Minh T, huyện Thủy N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Doãn Ph và bà Nguyễn Thị H, chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 06/9/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 05/4/2020 chấp hành xong quyết định. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ ngày 02/8/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí, có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến:

+ Anh Lê Quyết Thắng và ông Bùi Văn Đức, đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 50 phút ngày 02/8/2023, tại khu vực cổng chợ Phương N, thuộc Tổ 1, khu Bạch Đ, phường Phương N, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Uông Bí bắt quả tang Nguyễn Đắc S đang cất giấu trái phép chất ma túy, mục đích để sử dụng. Quá trình kiểm tra, thu tại nền đường ngay vị trí chân S đứng 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng dạng cục, kết quả giám định là ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,418 gam. S khai đây là ma tuý của S và Bùi Doãn M cùng góp tiền mua của một người đàn ông không quen biết, mang về để cùng nhau sử dụng. Vật chứng thu giữ gồm ma túy; 02 bơm kim tiêm, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám, kèm 01 sim tạm giữ của bị can Nguyễn Đắc S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám, gắn 01 sim tạm giữ của bị can Bùi Doãn M; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát 15B2-253.54 tạm giữ của anh Đầu Văn V, chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí để quản lý theo quy định của pháp luật.

Bản Kết luận giám định số: 1125/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Mẫu vật gửi giám định ký hiệu M là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,418 gam.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M đều khai nhận vào Khoảng 07 giờ ngày 02/8/2023, S gọi điện thoại rủ Bùi Doãn M cùng góp tiền mua ma tuý sử dụng, M đồng ý. Sau đó, S điều khiển xe mô tô đến khu vực Chợ Tổng, thành phố Hải Phòng đón M để chở đi mua ma tuý. Tại đây, M gọi điện thoại cho một người đàn ông ở thành phố Uông Bí (không rõ lai lịch, địa chỉ) hỏi mua ma tuý Heroine và hẹn địa điểm giao nhận ma tuý ở khu vực chợ Phương N, thành phố Uông Bí. Do xe mô tô của S hỏng, M đã gọi điện thoại cho bạn là Đầu Văn V mượn xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, biển kiểm soát 15B2-253.54 để cùng S đi mua ma tuý. Khi V mang xe đến, M đã vay V 20.000 đồng đưa cho S để góp tiền mua ma tuý và bơm kim tiêm để sử dụng ma tuý, rồi điều khiển xe mô tô chở S đến điểm hẹn mua ma tuý. Trên đường đi, M và S mua được 02 bơm kim tiêm với giá 20.000 đồng, rồi đi đến khu vực chợ Phương N, thành phố Uông Bí để lấy ma tuý. Khi đến điểm hẹn, S đã mua 100.000 đồng ma tuý Heroine của người đàn ông trên, rồi M điều khiển xe mô tô chở S đi tìm nơi sử dụng, khi vừa đi đến khu vực cổng chợ Phương N, thành phố Uông Bí thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 146/CT-VKSUB ngày 13/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc S từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/8/2023.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Doãn M từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/8/2023. Không đề nghị hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 1125/KL-KTHS; tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bơm kim tiêm không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại số 0838.367.986 và số 0332.228.046 không có giá trị sử dụng; tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám thu giữ của bị cáo Bùi Doãn M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám thu giữ của bị cáo Nguyễn Đắc S; Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, biển kiểm soát 15B2- 253.54 cho anh Đầu Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn 1A, xã Lưu K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M đều thừa nhận hành vi phạm tội và thừa nhận việc Viện kiểm sát nhân tỉnh Quảng Ninh truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội nên không tranh luận. Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về trình tự thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Uông Bí, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân tỉnh Quảng Ninh, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh:

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại tại phiên tòa và tại Cơ quan điều tra đều phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, lời khai của những người chứng kiến và phù hợp với Kết luận giám định số: 1125/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: khoảng 07 giờ 50 phút ngày 02/8/2023 tại tổ 1, khu Bạch Đằng 1, phường Phương N, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroine, tổng khối lượng là 0,418 gam với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên được chấp nhận.

. Về hình phạt:

Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và gây mất an ninh trật tự tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, gây nguy hại đến sức khỏe, đời sống của con người, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cho người sử dụng và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều là người trưởng thành có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đều nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng là bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện là thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Đắc S có bố là ông Nguyễn Đắc L được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì và tặng thưởng huân chương hạng ba đã có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong chống Mỹ cứu nước nên bị cáo Nguyễn Đắc S được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M đều đã bị Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân, vẫn tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng phục vụ cho nhu cầu của bản thân là chưa có ý thức chấp hành pháp luật.

Xét vai trò của các bị cáo cho thấy: Do cả hai bị cáo đều có nhu cầu sử dụng ma túy và rủ nhau cùng đi mua ma túy để sử dụng nên đây chỉ là đồng phạm mang tính giản đơn và có vai trò ngang nhau.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội cùng nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe giáo dục đối với các bị cáo nói riêng và đảm bảo tính phòng ngừa tệ nạn ma túy trong xã hội nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo hoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

. Về vật chứng và các vấn đề khác:

Số ma túy được hoàn lại sau giám định trong niêm phong số: 1125/KL-KTHS là vật cấm tàng trữ lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy;

Đối với 02 (hai) bơm kim tiêm thu giữ của các bị cáo không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc khẩu trang y tế không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám thu giữ của Nguyễn Đắc S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám thu giữ của Bùi Doãn M đã được sử dụng để trao đổi và mua ma túy nên đây phương tiện, công cụ phạm tội cần tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước.

Đối với 02 sim điện thoại số 0838.367.986 và 0332.228.046 là phương tiện, công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, biển kiểm soát 15B2- 253.54 là tài sản thuộc sở hữu của anh Đầu Văn T; sinh năm 1989; địa chỉ: thôn 1A, xã Lưu K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh T đã mua lại xe của anh Vũ Đình Kim; địa chỉ tại thôn 3, xã Minh T, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh Đầu Văn T cho em trai là Đầu Văn V mượn để đi làm. Thời điểm anh V cho bị cáo Bùi Doãn M mượn xe ngày 02/8/2023, anh V không biết bị cáo M sử dụng xe để mua ma túy. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của anh Đầu Văn T, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Bùi Doãn M, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

. Về án phí:

Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đắc S 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/8/2023.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Doãn M 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/8/2023.

2. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong đựng mẫu vật là số ma túy hoàn lại sau giám định số 1125/KL-KHTS.

Tịch thu, tiêu hủy 02 bơm kim tiêm y tế và 01 chiếc khẩu trang y tế

.

Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại số 0838.367.986 và số 0332.228.046.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám thu giữ của bị cáo Bùi Doãn M và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xám thu giữ của Nguyễn Đắc S.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, biển kiểm soát 15B2- 253.54 cho anh Đầu Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn 1A, xã Lưu K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

(Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, ngày 22/11/2023).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Nguyễn Đắc S và Bùi Doãn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ