- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công Thắng - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HS-ST Ngày 08-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Nhàn
Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Công T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 2000, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công T và bà Phạm Thị N; có vợ là Đào Thị Thanh N và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 48/2023/HS-ST ngày 31/3/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (hành vi phạm tội ngày 23/11/2022); tạm giam ngày 18/4/2023; có mặt.
- Bị hại: + Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân không có nghề nghiệp, tH tiền chơi game nên Trần Công T đã nảy sinh ý định đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 25/3/2023, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16L8-6949 đến cửa hàng thuốc của bà Nguyễn Thị T tại thôn V, xã A, huyện A, Hải Phòng, giả vờ vào hỏi mua thuốc chữa đau bụng cho con. Trong lúc bà Thường tìm thuốc, T hỏi bà Thường có biết ai chuyển tiền qua tài khoản để nhờ chuyển giúp 5.000.000 đồng và trả bằng tiền mặt. Bà Thường đồng ý chuyển hộ, sau đó dùng điện thoại di động đăng nhập vào ứng dụng Viettinbank iPay và bảo T đọc số tài khoản ngân hàng để nhận tiền. T sử dụng điện thoại di động của mình truy cập vào trang Web “33.Win.com” (game quay kho báu có trả thưởng bằng tiền) và đăng nhập vào tài khoản “YEUEMTULAU99” (tài khoản game của T) mật khẩu “THANGTAM8800” rồi chọn mục nạp tiền vào tài khoản ngân hàng Viettinbank thì hệ thống hiển thị ngẫu nhiên số tài khoản 104878143840 mang tên NGUYEN TRUNG TRUC với nội dung chuyển tiền là 7451. T đọc số tài khoản trên cho bà Thường và bảo nhắn nội dung chuyển tiền là 7451. Bà Thường đã chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào tài khoản do T cung cấp. Sau khi xem hình ảnh giao dịch thành công, T lấy ví da màu đen của mình mở ra giả vờ trả tiền và hỏi mua thêm lọ thuốc nhỏ mắt. Lợi dụng lúc bà Thường quay vào trong nhà lấy thuốc, T đã lên xe nổ máy bỏ chạy. Sau đó, bà Thường có đơn trình báo đến Công an huyện An Dương. Ngày 18/4/2023, Trần Công T bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã thu giữ vật chứng gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 16L8-6945 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 33L7-5250 do ông Trần Công T giao nộp.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Công T khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, T còn khai vào ngày 17/4/2023, cũng với mục đích đi lừa đảo lấy tiến chơi game, T đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 33L7-5250 đến cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị H tại thôn N, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng giả vờ hỏi mua thẻ nạp tiền điện thoại di động của nhà mạng Viettel mệnh giá 500.000 đồng. Sau khi nhận thẻ điện thoại mệnh giá 500.000 đồng, T tiếp tục giả vờ hỏi mua thêm 01 lọ xi đánh giày. Lợi dụng lúc bà H đi lấy hàng, T ra ngoài lên xe nổ máy bỏ chạy. Trước đó, từ ngày 03/4/2023 đến ngày 17/4/2023, cũng với thủ đoạn tương tự, T đã chiếm đoạt được 10 thẻ nạp tiền điện thoại di động mệnh giá 100.000 đồng và 02 thẻ nạp tiền điện thoại di động mệnh giá 200.000 đồng của một số chủ cửa hàng tạp hóa trên địa bàn huyện An Dương (không rõ tên, địa chỉ cụ thể). Tất cả số tiền và thẻ điện thoại chiếm đoạt được T đều để nạp vào tài khoản game của mình.
Tại Cáo trạng số 92/CT-VKSAD ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Công T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị H và những lần chiếm đoạt tài sản của các chủ tạp hóa không rõ tên, địa chỉ như nội dụng nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu quan điểm: Phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công T từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 48/2023/HS-ST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung theo quy định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Do không có tiền chơi game, bị cáo đã vào hiệu thuốc và quán tạp hóa để nói dối mua thuốc, mua thẻ điện thoại rồi nhờ chủ cửa hàng chuyển tiền và nhận thẻ điện thoại của bị hại sau đó lợi dụng lúc sơ hở của bị hại chiếm đoạt tiền và thẻ điện thoại của bị hại. Với thủ đoạn gian dối nêu trên bị cáo đã chiếm đoạt của bà Thường số tiền 5.000.000đồng vào ngày 25/3/2023 tại nhà bà Thường ở thôn V, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng và chiếm đoạt thẻ điện thoại mệnh giá 500.000 đồng của bà Nguyễn Thị H vào ngày 17/4/2023 nhà bà H ở thôn N, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà Thường và bà H là 5.500.000đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt thích đáng mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xét, trong thời gian bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội mới và bị truy tố, xét xử, điều đó chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên, mức hình phạt tù mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa là có phần nghiêm khắc cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội. Xét hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về tổng hợp hình phạt: Bản án hình sự số 48/2023/HS-ST ngày 31/3/2023 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi trộm cắp tài sản thực hiện trước lần phạm tôi này, bản án đã có hiệu lực phát luật và quyết định thi hành án nhưng bị cáo chưa thi hành hình phạt nên áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 5.000.000đồng bị cáo chiếm đoạt của bà Thường đã được bị cáo bồi thường xong; bà H không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về các vấn đề khác: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 16L8-6945 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 33L7-5250 là tài sản của ông Trần Công T và bà Phạm Thị N, ông T và bà N không biết bị cáo sử dụng xe để phạm tội nên Công an đã trả lại xe cho ông T và bà N. Đối với 04 lần thực hiện hành chiếm đoạt tài sản do bị cáo thực hiện tại các quán tạp hóa không rõ tên và địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã ra Thông báo tìm bị hại nhưng chưa có ai trình báo nên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau. Đối với số tài khoản 104878143840 mở tại ngân hàng Viettinbank mang tên NGUYEN TRUNG TRUC, T khai nhận đây là tài khoản ngẫu nhiên trong hệ thống game trên trang web “33Win.com”, T không biết chủ tài khoản là ai. Tài liệu điều tra xác định số tài khoản trên là của Nguyễn Trung T, sinh năm 1992, trú tại ấp M, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương đã ủy thác điều tra nhưng chưa có kết quả nên tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Công T 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 48/2023/HS-ST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo Trần Công T phải chấp hành hình phạt chung là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Trần Công T tính từ ngày 18 tháng 4 năm 2023.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Trần Công T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND huyện An Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương; - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương; - TAND thành phố Hải Phòng - Phòng PV 06 và PC 10 Công an T.P Hải Phòng; - Sở Tư pháp Hải Phòng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |