- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đậu Đức Th phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đậu Đức Th 06 (Sáu) tháng tù, về tội:“Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/04/2023.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HS-ST Ngày 22 - 06 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hồ Đạt Nghiệm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hữu Thỏa và bà Hoàng Hương Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Hà- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lý- Kiểm sát viên.
Ngày 22 Tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 05 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đậu Đức Th (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/11/1979; tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối 9, thị trấn C, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể: Không; con ông Đậu Đức T (Đã chết); con bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1949; có vợ: Lê Thị H, sinh năm 1982 (Đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2001; tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 13/04/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” (Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/09/2022).
Nhân thân: Ngày 21/01/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/04/2023 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Hồ Thị Q, sinh năm 1963; vắng mặt;
Nơi cư trú: Xóm 1, xã Quỳnh T, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Người chứng kiến: Bà Kiều Thị Thu H1, sinh năm 1962; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 11/04/2023, Đậu Đức Th đến Bệnh viện Đa khoa huyện Quỳnh Lưu (Thuộc xóm 13, xã Quỳnh T, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) để lấy thuốc điều trị bệnh ARV (Thuốc ức chế vi rút HIV), khi đi qua phòng khám số 3, khoa hồi sức cấp cứu của Bệnh viện, Th thấy bà Hồ Thị Q (Sinh năm 1963, trú tại: Xóm 1, xã Quỳnh T, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An), đang nằm ngủ ở giường bệnh số 2, cạnh cửa sổ có 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VSMART, màu xanh; Th đã lấy trộm chiếc điện thoại này đem về nhà cất dấu tại giường ngủ của mình. Sau khi bị mất điện thoại, bà Hồ Thị Q đã nói cho bà Kiều Thị Thu H1 (Sinh năm 1962, trú tại Xóm 4, xã Quỳnh T, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) biết; đồng thời làm đơn trình báo đến Công an xã Quỳnh T. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bà Kiều Thị Thu H1 đã dùng tài khoản Zalo “Kieuthithuhang” đăng ký số điện thoại 0973317454 của mình nhắn tin đến tài khoản Zalo “Quyet Qvien” đăng ký số điện thoại 0392953241 của bà Q nhắn tin với nội dung: “Ai mua máy này nhắn tin cho em với”. Sau khi đọc tin nhắn, Th sử dụng điện thoại VSMART lấy trộm của bà Q để gọi lại cho bà Hằng nói vừa mua lại được chiếc điện thoại này giá 600.000 đồng và hẹn bà Hằng đến thị trấn C để chuộc lại máy. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bà Hằng đến chân cầu vượt thuộc khối 9, thị trấn C, huyện Quỳnh Lưu để gặp Th. Lúc này Tổ công tác Công an xã Quỳnh T triệu tập Đậu Đức Th về trụ sở Công an xã Quỳnh T làm việc và phát hiện trên tay Th đang cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, gắn thẻ sim 1: 0835344951, sim 2: 0392953241 nên lập biên bản thu giữ. Sau đó Cơ quan CSĐT đã tiến hành Lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đậu Đức Th.
Ngày 13/04/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã yêu cầu định giá tài sản là chiếc điện thoại mà Đậu Đức Th đã trộm cắp của bà Hồ Thị Q. Tại bản kết luận định giá tài sản số 161/KL-ĐGTS, ngày 14/04/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Quỳnh Lưu xác định: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh, số IMEL1: 35270511431975701, số IMEL2: 3572705114319740/01, gắn thẻ sim 1: 0835344951, sim 2: 0392953241 đã qua sử dụng, tại thời điểm bị trộm cắp có giá trị 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
* Về vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh, gắn thẻ sim 1: 0835344951, sim 2: 0392953241 đã qua sử dụng: Cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sỡ hữu hợp pháp là bà Hồ Thị Q.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hồ Thị Q đã nhận lại tài sản; nay không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nữa.
Cáo trạng số 94/CT-VKS- QL ngày 29/05/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, truy tố bị cáo Đậu Đức Th, về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Quỳnh Lưu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Đậu Đức Th từ 07- 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hồ Thị Q đã nhận lại tài sản; nay không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự nên không xem xét.
* Về vật chứng vụ án: Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh cho chủ sở hữu bà Hồ Thị Q là có căn cứ; nay không có yêu cầu gì nên không xem xét.
* Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đậu Đức Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Đậu Đức Th khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố, không tranh luận gì về tội danh.
Lời nói sau cùng của bị cáo Đậu Đức Th: Bị cáo xin HĐXX xét xử giảm nhẹ hình phạt cho mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Quỳnh Lưu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hạị và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Đậu Đức Th khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 11/04/2023, bị cáo vào giường bệnh số 2, phòng số 3, khoa hồi sức cấp cứu của Bệnh viện Đa khoa huyện Quỳnh Lưu (Thuộc xóm 13, xã Quỳnh T, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh của bà Hồ Thị Q (Sinh năm 1963, trú tại: Xóm 1, xã Quỳnh T, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An), có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 7.50.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra xác định Đậu Đức Th đã có tiền án về tội: “ Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai có tại hồ sơ; phù hợp với thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản người bị hại khai báo bị mất; sự phù hợp, thống nhất của các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Đậu Đức Th đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và mức hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS, như Cáo trạng truy tố là đúng pháp luật.
. Quá trình phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi, ham ăn chơi, lười lao động mà cố tình phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang đối với chủ sở hữu tài sản; gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần xử lý nghiêm để giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
. Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giám nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị có 01 tiền án, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”, tại Bản án số 37/2022/HS-ST, ngày 13/04/2022. Bị cáo có 01 nhân thân về tiền án, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tại Bản án số 01/2015/HS-ST, ngày 21/01/2015. Căn cứ vào tính chât, mức độ phạm tội và nhân thân nên cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo đang bị tạm giam, không có tài sản, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Hồ Thị Q đã nhận lại tài sản; không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên miễn xét.
Biện pháp tư pháp:
Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện Quỳnh Lưu đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh cho chủ sở hữu hợp pháp bà Hồ Thị Q là có căn cứ; nay không ai có khiếu nại gì nên miễn xét.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đậu Đức Th phải nộp 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đậu Đức Th 06 (Sáu) tháng tù, về tội:“Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/04/2023.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đậu Đức Th phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND H. Quỳnh Lưu; - CQĐT Công an H. Quỳnh Lưu; - Cơ quan THAHSCA H. Quỳnh Lưu; - Thi hành án hình sự; - Chi cục THADS H. Quỳnh Lưu; - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND TT. C (Để biết); - Lưu hồ sơ, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Đạt Nghiệm |