vanban.org

Bản án 89/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 13/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Lý Văn T. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2023/HS-PT
Ngày: 13/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- T phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông.

Bà Hoàng Thị Hải Hường.

- Thư ký phiên toà: Trịnh Hoài Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13/6/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 119/2023/TLPT-HS ngày 18/4/2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn Tr, Lý Văn T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tr, Lý Văn T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Lý Văn T, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn Cao Sơn 1, xã Bản Luốc, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh H G; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; tôn giáo: không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 09/12; con ông Lý Ngọc Tuấn và bà Bôn Thị Bây; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2022 đến ngày 02/5/2023, hiện tại ngoại theo Quyết định trả tự do cho bị cáo số 03/2023/HSPT-QĐ ngày 28/4/2023 (Vắng mặt tại phiên tòa).

- Bị cáo kháng cáo rút kháng cáo:

2. Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Thu Thủy, xã Xuân Thu, huyện Sóc Sơn, T phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Bá C và bà Nguyễn Thị L (đã chết); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2022 đến ngày 03/6/2023, hiện tại ngoại. Ngày 25/5/2023 bị cáo rút đơn kháng cáo. (Không triệu tập).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan không kháng cáo, không L quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Tr làm nghề thu mua phế liệu ở tổ dân phố Ninh Khánh, thị trấn Nếnh, huyện Việt yên, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 14 giờ ngày 02/9/2022, Hà Anh Tuấn đến địa điểm thu mua sắt vụn của Nguyễn Văn Tr chơi, ngay sau đó có Nguyễn Văn T đến. Trong lúc cả 03 ngồi nói chuyện, Hà Anh Tuấn rủ Tr và T đi trộm sắt ở các công trường trong khu công nghiệp thì Tr và T đồng ý. Sau khi thống nhất xong, Tuấn và T đi đến khu Công nghiệp tìm xem có công trình nào đang xây dựng để sắt, thép sơ hở để trộm cắp. Khi đến khu vực công trường xây dựng nhà dịch vụ của Công ty cổ phần thép Việt Úc ở khu công nghiệp Song Khê- Nội Hoàng thuộc địa phận thôn Nội, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, Tuấn và T phát hiện thấy trong khu vực công trường đang xây dựng không có công nhân làm, quan sát thấy có nhiều thanh kim loại dạng kẽm, thép để vùng quanh, xung quanh có hàng rào tôn bao quanh công trường, nên đã đi về nói lại cho Tr biết. Sau đó Tr, Tuấn và T thống nhất đến tối gọi thêm một số đối tượng hẹn buổi tối cùng đến công trường xây dựng nhà dịch vụ của Công ty cổ phần thép Việt Úc để trộm cắp sắt.

Khoảng 20 giờ ngày 02/9/2022, Hoàng Văn Hương đến địa điểm thu mua phế liệu của Tr chơi, Tr rủ Hương đi bốc sắt, Hương đồng ý đi cùng bọn Tr, Tuấn, T. Sau đó Tr điều khiển xe ô tô tải 29H- 373.85 chở Tuấn ngồi ca bin ghế phụ, còn T và Hương ngồi thùng xe đi, khi đến bờ hồ ở tổ dân phố My Điền 1, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên gặp Vì Văn Dơn và 02 thanh niên (Dơn chỉ quen biết, không biết tên địa chỉ) đang chơi ở đó. Tuấn bảo Dơn và 02 thanh niên này đi trộm cắp sắt cùng, Dơn và 02 thanh niên đồng ý và lên ngồi trên thùng xe cùng Hương và T. Đến Km 08 QL 37 thuộc thôn L Sơn, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, Tr gặp bạn là Trần Văn Dũng cùng làm thu mua phế liệu, Tr đỗ xe lại bảo Dũng đi trộm cắp sắt cùng, Dũng đồng ý và lên ngồi ca bin cùng Tuấn. Khoảng 23 giờ cùng ngày khi cả bọn đến gần công trình xây dựng nhà dịch vụ của Công ty cổ phần thép Việt Úc cách khoảng 50m, Tr đỗ xe lại để tránh sự phát hiện của bảo vệ công trường rồi Tr, Tuấn, Dũng, Hương, T, Dơn và 02 thanh niên xuống xe ô tô đi bộ đến hàng rào tôn bao quanh công trường. Tuấn dùng cà lê đem theo tháo ốc vít tấm tôn hàng rào, Tr đứng cảnh giới để các đối tượng đi vào bên trong trộm cắp được: 111 thanh kim loại dạng hộp, kích thước (50x50x1,4)mm, có nhiều dài khác nhau từ 50cm- 450cm; 01 thanh kim loại dạng hộp, kích thước (50x100x1,2)mm dài 206cm; 10 thanh kim loại dạng xoắn, đường kính 10mm, dài 308cm, hai đầu uốn cong; 41 thanh kim loại dạng ống (giằng ngang Mono Nhật Bản D42x2x1.200mm), đường kính 4,2cm, dài 1,24m ở hai đầu có thiết kế đai móc kim loại đem ra để ở bên ngoài hàng rào cạnh tấm tôn mà Tuấn tháo rời. Khi các bị cáo đang thực hiện hành vi, bảo vệ của Công ty phát hiện được đã gọi điện thông báo cho Tổ công tác Công an xã Nội Hoàng đến kiểm tra bắt quả tang đối với Nguyễn Văn Tr, còn Tuấn, Dũng, T, Hương, Dơn và 02 thanh niên bỏ trốn.

Tang vật thu giữ gồm: 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu KIA, biển kiểm soát 29H-373.85; 01 điện thoại Iphone7 màu hồng ở ca bin xe; thu giữ trên thùng xe ô tô: 111 thanh kim loại dạng hộp, kích thước (50x50x1,4)mm, có nhiều dài khác nhau từ 50cm- 450cm, có tổng khối lượng 618,5kg; 01 thanh kim loại dạng hộp, kích thước (50x100x1,2)mm dài 206cm, có khối lượng 7,1kg; 10 thanh kim loại dạng xoắn, đường kính 10mm, dài 308cm, hai đầu uốn cong, có tổng khối lượng là 16kg; 41 thanh kim loại dạng ống (giằng ngang Mono Nhật Bản D42x2x1.200mm), đường kính 4,2cm, dài 1,24m ở hai đầu có thiết kế đai móc kim loại, có tổng khối lượng 102kg; thu giữ của Tr: 01 ví da màu vàng, bên trong có 6.267.000đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 64/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Yên Dũng kết luận: Tổng trị giá tài sản các đối tượng trộm cắp xác định là 15.043.000đồng.

Sau khi biết hành vi trộm cắp đã bị Công an phát hiện, đang điều tra, ngày 03/9/2022, Lý Văn T đến Công an huyện Yên Dũng đầu thú; ngày 02/10/2022, Hoàng Văn Hương, Vì Văn Dơn đến Công an huyện Yên Dũng đầu thú.

Với nội dung trên, tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSYD ngày 28/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố các bị cáo Hà Anh Tuấn, Nguyễn Văn Tr, Lý Văn T, Hoàng Văn Hương, Vì Văn Dơn về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 15/2023/HSST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 09 (C) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2022.

Phạt bổ sung Nguyễn Văn Tr số tiền 5.000.000đồng để sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/20222.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi án sơ thẩm xét xử xong, ngày 22/3/2023 bị cáo Nguyễn Văn Tr có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 23/3/2023, Bị cáo Lý Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: xim giảm nhẹ hình phạt.

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Trường đã tự nguyện rút toàn bộ đơn kháng cáo. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có Thông báo về việc rút kháng cáo số 17/2023/TB-TA ngày 26/5/2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lý Văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tr, Lý Văn T nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét.

. Về sự vắng mặt của các bị cáo: Vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn Tr, nhưng bị cáo đã rút kháng cáo, Tòa án đã có thông báo về việc rút đơn kháng cáo đối với bị cáo Tr, nên Hội đồng xét xử không triệu tập. Bị cáo Lý văn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị cáo T.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 23 giờ ngày 02/9/2022, tại công trường xây dựng nhà dịch vụ của Công ty cổ phần thép Việt Úc địa chỉ tại khu công nghiệp Song Khê- Nội Hoàng thuộc địa phận thôn Nội, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng; Nguyễn Văn Tr, Hà Anh Tuấn, Lý Văn T, Hoàng Văn Hương, Vì Văn Dơn, Trần Văn Dũng có hành vi trộm cắp: 111 thanh kim loại dạng hộp (thép hộp mạ kẽm), kích thước (50x50x1,4)mm, có nhiều dài khác nhau từ 50cm- 450cm, có tổng khối lượng 618,5kg; 01 thanh kim loại dạng hộp (thép hộp mạ kẽm), kích thước (50x100x1,2)mm dài 206cm, có khối lượng 7,1kg; 10 thanh kim loại dạng sắt xoắn, đường kính 10mm, dài 308cm, hai đầu uốn cong, có tổng khối lượng là 16kg; 41 thanh kim loại dạng ống (giằng ngang Mono Nhật Bản D42x2x1.200mm), đường kính 4,2cm, dài 1,24m ở hai đầu có thiết kế đai móc kim loại, có tổng khối lượng 102kg. Tổng trị giá tài sản trộm cắp xác định là 15.043.000đồng.

Khi thực hiện hành vi các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi nêu trên của các bị cáo Hà Anh Tuấn, Nguyễn Văn Tr, Lý Văn T, Hoàng Văn Hương, Vì Văn Dơn đã cấu T tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, xử phạt bị cáo Lý Văn T 08 (Tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lý Văn T thì thấy:

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đến cơ quan công an để đầu thú về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tuy nhiên tại Tòa án cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Lý Văn T như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tr: Trước khi xét xử phúc thẩm, ngày 25/5/2023, bị cáo đã tự nguyện nộp đơn xin rút kháng cáo. Tòa án đã ra thông báo rút kháng cáo đối với bị cáo. Do vậy, không xem xét, giải quyết.

. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Lý Văn T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Văn T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2022.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo Lý Văn T.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

T VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

T THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông Hoàng Thị Hải Hường

Trần Thị Hà

Cỡ chữ