vanban.org

Bản án 89/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng S, sinh ngày 28-12-2014 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 29-3-2013 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ L - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? 1- Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-10-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Duy Việt

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Phạm Thị Khanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Anh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 111/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023, về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L; ĐKHKTT: Thôn 2, xã HB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Tổ 9 phường KS, thành phố HB, tỉnh Hòa Bình; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: Thôn 2, xã HB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

1. Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã HB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng từ ngày 04-3-2013. Quá trình chung sống của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên xô xát, không tôn trọng nhau. Gia đình hai bên đã khuyên giải và bản thân chị đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không đạt kết quả. Từ năm 2016 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung là Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 29-3-2013 và Nguyễn Trọng S, sinh ngày 28-12-2014. Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, chị đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thị Phương A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Trọng S cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại điều kiện nuôi dưỡng con và nguyện vọng của các con, chị đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Thị Phương A cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Trọng S cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị L xin nhận chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần triệu tập đến trụ sở Tòa án để hỏi ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L nhưng đều vắng mặt không có lý do, không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ L.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ L có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con, anh Nguyễn Văn T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến tòa theo giấy triệu tập của Tòa án là chưa tuân thủ các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giải quyết chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Văn T; về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Mỹ L được nuôi dưỡng con Nguyễn Trọng S, giao cho anh Nguyễn Văn T được nuôi dưỡng con Nguyễn Thị Phương A đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị không xét; về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên đề nghị Tòa án không xét; về án phí: Chị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L, bị đơn anh Nguyễn Văn T: Chị L, anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02, chị L vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L, anh T.

- Về yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L kết hôn với anh Nguyễn Văn T trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HB, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 04-3-2013, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai của đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống chị L và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thông cảm với nhau, vợ chồng đã ly thân nhau từ năm 2016. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu thuẫn của chị L, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị L đề nghị được ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị L được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Nguyễn Văn T có 02 con chung là Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 29-3-2013 và Nguyễn Trọng S, sinh ngày 28-12-2014; cháu Phương A, cháu Sang đều đã trên 07 tuổi, cháu S có đề nghị được ở với chị L, cháu Phương A có đề nghị được ở với anh T; chị L, anh T đều có công việc và thu nhập ổn định, đảm bảo được điều kiện nuôi con. Nên căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị L về việc giao cháu Nguyễn Trọng S cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Thị Phương A cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 55, 57 và Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào quy định tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng S, sinh ngày 28-12-2014 cho chị Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao cháu Nguyễn Thị Phương A, sinh ngày 29-3-2013 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0006629 ngày 12 tháng 6 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, chị L đã nộp đủ án phí.

4- Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Nguyễn Thị Mỹ L, anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

5- Về quyền yêu cầu thi hành: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ