- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đoàn Thị Thúy A và anh Đặng Văn S.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST Ngày 02 tháng 6 năm 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thành Phước và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung.
Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: không tham gia phiên tòa.
Ngày 02 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/4/2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/5/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đoàn Thị Thúy A, sinh năm 1986.
Địa chỉ: tổ 7 ấp V, xã V, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: anh Đặng Văn S, sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Các đương sự đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Đoàn Thị Thúy A trình bày:
Chị với anh Đặng Văn S chung sống với nhau từ năm 2003, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có 01 con chung, tuy nhien thời gian sau này anh S không chịu làm ăn, bắt đầu thường xuyên ăn nhậu say xỉn về nhà gây gổ đánh đập vợ con. Do đó chị cảm thấy không còn hạnh phúc nên đã quyết định sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Trong quá trình sống ly thân chị với anh S cũng có gặp nhau vài lần, anh S cũng có ý định hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng chị không đồng ý. Nay chị A yêu cầu như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: chị Đoàn Thị Thúy A xin được ly hôn với anh Đặng Văn S.
+ Về con chung: có 01 con chung tên Đặng Văn Nguyên sinh ngày 19/12/2005 hiện đang sống với anh S. Sau ly hôn chị A yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
+ Về nợ chung: không có.
Tại phiên tòa chị A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn anh Đặng Văn S trình bày:
Anh với chị Đoàn Thị Thúy A sau thời gian tìm hiểu đã quyết định tổ chức đám cưới vào năm 2003, đến nay vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau này bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân bắt đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh với chị A chính thức sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay ý kiến của anh S như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: anh Đặng Văn S đồng ý ly hôn với chị Đoàn Thị Thúy A.
+ Về con chung: có 01 con chung tên Đặng Văn Nguyên sinh ngày 19/12/2005. Sau ly hôn con muốn sống với ai thì người đó nuôi, không cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
+ Về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn anh Đặng Văn S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
Về nội dung tranh chấp:
Chị Đoàn Thị Thúy A và anh Đặng Văn S chung sống với nhau từ năm 2003, có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây thì bắt đầu bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng cũng chính thức sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Do tình cảm không còn, không quay lại sống chung với nhau được nữa nên chị A có đơn xin được ly hôn, anh S cũng đồng ý ly hôn. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Tại khoản 2 Điều 53 cũng quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Như vậy, mặc dù chị A và anh S đã chung sống với nhau một thời gian dài nhưng về mặt pháp luật không thừa nhận quan hệ giữa anh, chị là vợ chồng nên việc chị A yêu cầu ly hôn với anh S là không phù hợp mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đoàn Thị Thúy A và anh Đặng Văn S.
Về quan hệ con chung: trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị A và anh S thỏa thuận được với nhau về người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn, mong muốn của cháu Đoàn Văn Nguyên cũng được sống với anh S sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy, có đủ căn cứ áp dụng điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Đặng Văn Nguyên sinh ngày 19/12/2005 cho anh S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Chị A không phải cấp dưỡng nuôi con do anh S không yêu cầu.
Về quan hệ tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: không có.
Từ những phân tích trên, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, các yêu cầu khác được chấp nhận.
Về án phí: chị A là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, điều 39, khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 điều 9, điều 14, khoản 2 điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đoàn Thị Thúy A và anh Đặng Văn S.
- Về quan hệ con chung: giao con chung Đặng Văn Nguyên sinh ngày 19/11/2005 (hiện đang sống với anh S) cho anh Đặng Văn S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Chị Đoàn Thị Thúy A không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Đoàn Thị Thúy A và anh Đặng Văn S cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: không yêu càu giải quyết.
Về nợ chung: không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Đoàn Thị Thúy A và anh Đặng Văn S phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí: chị Đoàn Thị Thúy A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011750 ngày 28/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
Chị Đoàn Thị Thúy A và anh Đặng Văn S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKS huyện Thoại Sơn; - Chi Cục THADS huyện Thoại Sơn; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |