- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST Ngày 25-5-2023 Về tranh chấp: "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Lắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung
2. Bà Huỳnh Thị Thu Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang: Không tham gia.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 13/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp: "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp X, xã H. T, huyện Đ. H, tỉnh Long An (đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn ngày 15/12/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị và anh L quen biết nhau do mai mối, tìm hiểu khoảng một năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức cưới, có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới thì anh chị sống bên gia đình chồng được vài tháng thì về bên gia đình chị sống và đi làm tại huyện Đ. H, tỉnh Long An. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, do vấn đề không có con, chị yêu cầu anh L khám bệnh về sinh sản nhưng anh L không đồng ý nên vợ chồng thường hay cãi vả. Nay không hàn gắn tình cảm được nữa, chị yêu cầu ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu giải quyết.
* Quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Thanh L trình bày:
Anh thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian, điều kiện kết hôn. Anh cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn, vẫn còn yêu thương nhau, anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp: "Ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn chị T có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh L vắng mặt không lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Anh L và chị T kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử nhận thấy, theo lời trình bày của chị: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, do vấn đề vợ chồng không có con, chị có yêu cầu anh L khám bệnh về sinh sản nhưng anh L không đồng ý nên vợ chồng thường hay cãi vả. Về phía anh L, anh cho rằng vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn, vẫn còn yêu thương nhau nên anh không đồng ý ly hôn, nhưng anh không có giải pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị được ly hôn với anh L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[6] Về án phí: Chị T yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định..
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thanh L.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0008429 ngày 30/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang. Chị T đã nộp xong án phí.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H.Tân Phú Đông; - CC.THADS H. Tân Phú Đông; - UBND xã Phú Tân, H.Tân Phú Đông; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Văn Lắm |