- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Lê Thị Cẩm L - Nguyễn Chí H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Cẩm L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST Ngày 12/6/2023 V/v Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai Ka
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Út
Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Bà Lê Thị Xuân Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2023/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về việc “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 62/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1987 (có mặt)
Địa chỉ: Số 9/13, ấp A, xã B, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí H, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã D, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15/3/2023 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm L trình bày:
Qua quen biết chị L và anh Nguyễn Chí H có tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 93, ngày 25/7/2012 tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do anh H thường xuyên nhậu nhẹt, không lo chí thú làm ăn, không chăm lo cho gia đình, vợ con. Chị L đã nhiều lần ly thân và cố gắng khuyên ngăn cũng như cho anh H cơ hội sửa đổi nhưng anh vẫn không thay đổi. Đến tháng 8/2022 chị L đã ly thân với anh H và bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, từ thời gian đó đến nay anh H vẫn không liên lạc và cũng không có ý định hàn gắn với chị L.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Chí H.
Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là Nguyễn Lê Mỹ T, sinh ngày 05/6/2013. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Chí H vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.
Tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh H.
Bị đơn anh Nguyễn Chí H vắng mặt tại phiên xét xử.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long:
Áp dụng quy định tại các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 4 Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm L.
Quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Cẩm L được ly hôn với anh Nguyễn Chí H.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Mỹ T, sinh ngày 05/6/2013 cho chị Lê Thị Cẩm L nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Cẩm L nộp 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Chí H đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị Cẩm L và anh Nguyễn Chí H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 93, ngày 25/7/2012 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nên đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị L: Chị L trình bày trong thời gian chung sống chị và anh H xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, tính tình không hòa hợp nên hai người rất ít quan tâm chăm sóc nhau. Anh H không quan tâm chăm sóc gia đình, không lo lắng cho vợ con mà chỉ lo nhậu nhẹt, ăn chơi. Chị L ly thân với anh H từ tháng 8/2022 đến nay, chị đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống nhưng anh H không đến thăm nom, cũng không liên lạc với chị L. Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt không lý do, điều này thể hiện anh H đã không còn tha thiết đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hòa giải đoàn tụ, hai người đã không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H là có cơ sở. Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Lê Mỹ T, sinh ngày 05/6/2013. Xét cháu T đang được chị L chăm sóc và nuôi dưỡng đang phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Anh H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không lý do, cũng như không có ý kiến trình bày về yêu cầu nuôi con chung của anh gởi đến Toà án. Tại Biên bản làm việc ngày 10/4/2023 cháu T có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Xét thấy việc giao cháu T cho chị L nuôi dưỡng để đảm bảo sự ổn định về tâm sinh lý cũng như sự phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc chị Lê Thị Cẩm L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Cẩm L.
1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm L được ly hôn với anh Nguyễn Chí H.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Lê Mỹ T, sinh ngày 05/6/2013 cho chị Lê Thị Cẩm L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Anh Nguyễn Chí H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Cẩm L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Cẩm L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004809 ngày 16/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị L đã nộp xong.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long: 01; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: 02; - Chi cục thi hành án DS huyện Long Hồ: 02; - Đương sự: 02; - Ủy ban nhân dân xã B: 01; - Lưu hồ sơ vụ án: 04. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Mai Ka |