vanban.org

Bản án 89/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các Điều51, 56,58,81, 82,83 Luật Hôn nhânvàgia đình;

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đỗ Thị Kim P được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Đỗ Thị P V cho chị Nguyễn Minh T nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa Đỗ Thị Kim P và Nguyễn Minh T (T1)"
  • Tòa quyết gì? Các Điều51, 56,58,81, 82,83 Luật Hôn nhânvàgia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A
TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/8/2023
V/v tranh chấp "Ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngọc Giàu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hồ Thị Hoa

2. Bà Đoàn Thị Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh K: Ông Trần Văn Ý – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh K xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 136/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim P, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Ấp 10 H, xã Đ, huyện A, tỉnh K

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T (T1), sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp 10 H, xã Đ, huyện A, tỉnh K.

(Chị P có mặt; anh T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, các ý kiến và yêu cầu trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị Kim P trình bày:

Chị và anh T (T1) do quen biết và yêu thương nhau được cha mẹ hai bên đồng ý và tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn vào ngày 03/02/2020 tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh K.

Thời gian đầu anh chị chung sống với nhau rất hạnh phúc và sinh được một người con là Đỗ Thị P V, sinh ngày 25/7/2016. Hiện cháu V do anh T nuôi dưỡng.

Sau thời gian vợ chồng sống chung 02 năm cho đến nay nhận thấy cuộc hôn nhân này có quá nhiều áp lực. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau nên thường xuyên gây lộn, cãi vã, dẫn đến bất đồng nhiều quan điểm lệch nhau, vì thế phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống gia đình. Do mâu thuẫn kéo dài đến nay không thể hàn gắn được nữa và chị không thể nào yêu thương anh T được nữa, nên chị yêu cầu ly hôn trả tự do cho nhau. Chị xác định chị và anh T đã ly thân 03 năm nay.

Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Minh T (T1).

Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên là Đỗ Thị P V, sinh ngày 25/7/2016. Sau khi ly hôn chị đồng ý tiếp tục giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Minh T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Kim P, mặc dù Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

- Chị P: Vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn; đồng ý tiếp tục giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh T: Vắng mặt không có lý do mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần.

- Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn vắng mặt không đảm bảo theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Đỗ Thị Kim P được ly hôn với anh Nguyễn Minh T. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Đỗ Thị P V, sinh ngày 25/7/2016 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết do anh T không có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có, anh T không có ý kiến hay yêu cầu gì về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Minh T là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh đã vắng mặt không lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan là từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình được pháp luật bảo vệ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T trong vụ án này.

Về quan hệ hôn nhân:

- Xét thấy quan hệ hôn nhân của chị Đỗ Thị Kim P và anh Nguyễn Minh T là hợp pháp, được UBND xã Đ, huyện A, tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 08/2020 cấp ngày 03/02/2020. Hôn nhân của anh chị được xây dựng trên cơ sở quen biết, tìm hiểu nhau trước khi đi đến hôn nhân. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn.

Theo chị P nguyên nhân tính tình không hợp nhau nên thường xuyên gây lộn, cãi vã, dẫn đến bất đồng nhiều quan điểm lệch nhau, vì thế phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống gia đình. Do mâu thuẫn kéo dài đến nay không thể hàn gắn được nữa và chị không thể nào yêu thương anh T được nữa, nên chị yêu cầu ly hôn trả tự do cho nhau. Chị và anh T đã ly thân 03 năm nay.

Anh T không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện cũng như nguyên nhân mâu thuẫn mà phía chị P đưa ra. Mặc dù Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng nhiều lần nhưng anh T bỏ mặc không có văn bản thể hiện ý kiến, nguyện vọng của mình là muốn duy trì quan hệ hôn nhân này. Đồng thời chị P và anh T đã có thời gian ly thân khá lâu nhưng vẫn không thể hàn gắn, đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của chị P và anh T là không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị P xác định giữa chị và anh T có 01 con chung là Đỗ Thị P V, sinh ngày 25/7/2016. Hiện đang sinh sống cùng với anh T. Khi ly hôn chị P đồng ý tiếp tục giao con chung cho anh T nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi chị P và anh T ly thân đến nay do anh T nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Đồng thời theo xác nhận của chính quyền địa P cháu V hiện do anh T và mẹ anh T nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo sự phát triển và quyền lợi của con chung, Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao con chung là Đỗ Thị P V, sinh ngày 25/7/2016 cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị P xác định không có, anh T không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đỗ Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xét đề nghị của Vị Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Các Điều 147, 227, 228, 271, 273, 278, 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều51, 56,58,81, 82,83 Luật Hôn nhânvàgia đình;

- Các Điều 24, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Đỗ Thị Kim P được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung là Đỗ Thị P V cho chị Nguyễn Minh T nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó;

- Chị Đỗ Thị Kim P không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Nguyễn Minh T không có yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết do không có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001281 ngày 22 tháng 5 năm 2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh K. Xem như chị P đã thi hành xong phần án phí.

5. Chị Đỗ Thị Kim P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Minh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh K xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ