- Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Căn cứ chính? Điều 157 Luật tố tụng hành chính; Điều 158 Luật tố tụng hành chính
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! TỈNH!BÌNH!THUẬN! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HC-ST Ngày: 14-9-2023 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!BÌNH!THUẬN!
-!Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phước Hiệu;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Vĩnh Kỳ;
Ông Đào Văn Sáng;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Anh là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 110/2023/TLST-HC ngày 18 tháng 7 năm 2023, về việc:“ Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2023/QĐXXST-HC ngày 29 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Đặng Anh P, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Anh P1: Ông Kim Ngọc D, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B.
Địa chỉ: Khu Dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Phan Thành L – Phó giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ.
Địa chỉ: Số C đường T, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện: Ông Phan Thành L – Phó giám đốc phụ trách Chi nhánh Văn phòng Đ.
2. Ủy ban nhân dân thành phố P.
Địa chỉ: D T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
3. Bà Cao Thị Thanh L1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị Thanh L1: Ông Kim Ngọc D, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt ông Kim Ngọc D; các đương sự khác vắng mặt.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người khởi kiện là ông Đặng Anh P, người đại diện theo ủy quyền là ông Kim Ngọc D trình bày:
Ngày 30/8/2022, bà Ngô Thị H chuyển nhượng cho ông P thửa đất số 266, tờ bản đồ số 58, diện tích 1000 m2 đất ở tại đô thị và đất trồng cây hàng năm khác tại khu phố E, phường M, thành phố P theo Giấy chứng nhận số CP 594365 do UBND thành phố P cấp ngày 05/12/2018. Việc chuyển nhượng được xác lập theo hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 000445, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐ,GD do Văn phòng C công chứng ngày 30/8/2022. Ngày 05/9/2022, ông P nộp hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất. Đến ngày 21/9/2022 Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ ra Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT với nội dung hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông P. Nhận thấy việc từ chối giải quyết hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của ông P là không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên ông P khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết: Hủy Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ; Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện việc chỉnh lý biến động sang tên cho ông P đối với thửa đất số 266, tờ bản đồ số 58 theo Giấy chứng nhận số CP 594365 do UBND thành phố P cấp ngày 05/12/2018.
Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại Văn bản số 1985/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 22/8/2023 như sau:
Ngày 05/9/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Ngô Thị H sang ông Đặng Anh P, đối với khu đất đã được cấp Giấy chứng nhận số CP 594365. Qua thẩm tra hồ sơ, xét thấy phần diện tích 150 m2 đất ở tại đô thị có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2012 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối với nội dung vướng mắc nêu trên, UBND thành phố P đã có Báo cáo số 275/BC – UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh B về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng; đến nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo thực hiện. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng Anh P; lý do: Việc chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B xét thấy việc Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành văn bản số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/9/2022 gửi ông Đặng Anh P1 được biết việc sai sót trong quá trình giải quyết hồ sơ chuyển mục đích trước đây và tạm dừng giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng Anh P1 là có cơ sở. Sau khi UBND thành phố P xử lý xong việc sai sót nêu trên thì Chi nhánh Văn phòng Đ sẽ thông báo đến ông Đặng A Pháo nộp lại hồ sơ và giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ có ý kiến tại văn bản số 7203/CNVPĐKĐĐP ngày 11/8/2023 như sau:
Ngày 05/9/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Đặng Anh P1 tại biên nhận số 2022-18781/TNHS, đối với thửa đất số 266, tờ bản đồ số 58, diện tích 1000.0 m2 đất ở tại đô thị và đất trồng cây hàng năm khác theo Giấy chứng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 594365 do UBND thành phố P cấp ngày 05/12/2018, cập nhật biến động ngày 17/12/2018 và ngày 16/01/2019.
Tuy nhiên, qua rà soát hồ sơ thì phần diện tích 150 m2 đất ở đô thị của thửa đất số 266, tờ bản đồ số 58 theo Giấy chứng nhận số CP 594365 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây hàng năm khác sang đất ở tại đô thị nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B thì vị trí chuyển mục đích sử dụng đất nằm trong quy hoạch đất cơ sở sản xuất kinh doanh. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng Đ đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B liên quan đến đất được chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định.
Ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh B về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Sau khi UBND tỉnh B có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh B”. Đồng thời ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ có công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).
Như vậy, căn cứ Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thì hiện nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 21/9/2022, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ đã ban hành Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng Anh P2; lý do: Việc chuyển mục đích không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố P không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Tòa án xác định đúng đối tượng khởi kiện và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc khởi kiện của người khởi kiện là còn thời hiệu; TAND tỉnh Bình Thuận giải quyết là đúng thẩm quyền.
Về nội dung: Xét thấy Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng A Pháo đối với tài sản là quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng hợp pháp từ người khác là không phù hợp và không có căn cứ pháp luật; Việc ban hành văn bản nêu trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, T:
Hủy Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ;
Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ về giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng A Pháo theo quy định pháp luật.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt Ủy ban nhân dân thành phố P, vắng mặt Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, vắng mặt Chi nhánh Văn phòng Đ nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ Điều 157 và Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này là đúng quy định.
[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đặng Anh P; Xét thấy Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT của Chi nhánh Văn phòng Đ có nội dung dừng giải quyết và trả hồ sơ nhận chuyển nhượng đất của ông P, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự nên được xác định là quyết định hành chính bị kiện. Như vậy đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật tố tụng hành chính thì khiếu kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Bình Thuận.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 21/09/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT. Ngày 04/7/2023, ông P khởi kiện đối với thông báo trên là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Anh P1. Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) số CP 594365 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 05/12/2018 và xác nhận ngày 16/01/2019 của Chi nhánh văn phòng Đ tại trang 3 của giấy chứng nhận thì thửa đất số 266, tờ bản đồ số 58, diện tích 1000 m2, trong đó đất ở tại đô thị 150 m2 và đất trồng cây lâu năm 850 m2 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Ngô Thị H.
Ngày 30/8/2022, bà H đã ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông P1. Việc chuyển nhượng được các bên thực hiện đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông P1 đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động thửa đất nêu trên. Ngày 21/09/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P1, trong đó có nội dung tạm ngưng việc giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng QSDĐ nêu trên với lý do 150 m2 đất ở đô thị được chuyển mục đích không phù hợp bản đồ quy hoạch đất, phải chờ ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố P.
Xét thấy, trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về cấp mới, cấp đổi và chuyển quyền sử dụng đất thì ngày 20/7/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Văn bản số 4046/CNVPĐKĐĐPT báo cáo về sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở trên địa bàn thành phố P không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B, kèm theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 nhưng đến nay UBND thành phố P vẫn không có ý kiến về việc xử lý các sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở mà Chi nhánh Văn phòng Đ đã kiến nghị.
Theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2013, quy định về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp như sau:
1. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:
a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.
2. Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.
- Khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 168 Luật đất đai, quy định: Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, … khi có giấy chứng nhận…; Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.
- Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai, quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
- Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014 như sau:
b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định;
c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm kiểm tra, xem xét quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Căn cứ vào các quy định pháp luật viện dẫn nêu trên, thấy rằng: ông P1 thực hiện quyền nhận chuyển nhượng thửa đất số 266/1000 m2 đất nêu trên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, điểm b khoản 1 Điều 169, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Hơn nữa, việc nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên không làm thay đổi hiện trạng, diện tích, mục đích sử dụng đất. Do đó, việc Chi nhánh Văn phòng Đ là cơ quan trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B không thực hiện thủ tục hành chính giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng thửa đất số 266/1000 m2 của ông P1 là trái quy định pháp luật. Đồng thời, ban hành Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P1 là không có căn cứ pháp luật và đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của những người nhận chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên nên cần tuyên hủy là phù hợp.
Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông P1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn!cứ:!
Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Khoản 7 Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 99, Điều 106, khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên!xử:!
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Đặng Anh P1.
- Hủy Thông báo số 1452/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/09/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
2/ Về án phí hành chính sơ thẩm:
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho ông Đặng A Pháo 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0020023 ngày 14/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKSND cấp cao; - Cục THA tỉnh Bình Thuận; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, THC; ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Trần!Phước!Hiệu! |