vanban.org

Bản án 89/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471; 288 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

họ, hụi, biêu, phường; năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hợp đồng hụi"
  • Tòa quyết gì? 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471; 288 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 89/2023/DS-ST
Ngày: 30-05-2023
V/v tranh chấp hợp đồng góp
hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Tám

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham

gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét

xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 53/2023/TLST-DS ngày 10 tháng

03 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án

ra xét xử số: 130/2023/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 04 năm 2023 và Quyết định

hoãn phiên tòa số: 104/2023/QĐST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2022 giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bà Nguyễn Bé N, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ 09 ấp

Hoà Thạnh, xã Châu Phong, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, có mặt;

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Đinh Huỳnh Ngọc Tr, sinh

năm 2000; địa chỉ: khóm Phú Hiệp, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An

Giang là đại diện theo uỷ quyền (giấy uỷ quyền ngày 12/4/2023), có mặt;

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1980 và ông Đặng Huy Th, sinh

năm 1982; địa chỉ: số 262 tổ 09 ấp Hoà Hiệp, xã Phú Hiệp, huyện Phú Tân, tỉnh

An Giang, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tự khai của bà Nguyễn Bé N trong quá trình giải

quyết vụ án trình bày: Từ năm 2015 đến 2020 bà Nguyễn Thị G và ông Đặng Huy Th có tham gia giao dịch hụi với bà Nguyễn Bé N. Bà N làm chủ của nhiều dây hụi, trong đó bà G, ông Th tham gia là hụi viên cụ thể như sau: Hụi 1.000.000 đồng/tuần; vợ chồng Th, G tham gia 03 dây, trong đó mỗi dây hụi, tham gia 05 phần; hụi 2.000.000 đồng/10 ngày, bà G, ông Th tham gia 03 dây hụi, mỗi dây tham gia 03 phần; hụi 3.000.000 đồng/10 ngày, tham gia 03 dây, mỗi dây tham gia 02 phần, có dây tham gia 03 phần, hụi 5.000.000 đồng/15 ngày, bà G, ông Th tham gia 03 dây, mỗi dây 02 phần; hụi 10.000.000 đồng/tháng bà G, ông Th tham gia 03 dây, mỗi dây tham 01 phần, có dây tham gia 02 phần; hụi 20.000.000 đồng/tháng, tham gia 01 phần, các phần hụi bà G, ông Th tham gia đều đã hốt (lĩnh) hụi hết. Tuy nhiên, sau đó có tháng góp hụi, tháng không và ngừng không góp hụi. Nên giữa bà N và bà G hai bên kết toán lại số tiền nợ hụi tổng cộng là 786.000.000 đồng, phía bà G có làm tờ cam kết mỗi tháng góp tiền hụi là 22.000.000 đồng/tháng. Sau đó, bà G, ông Th góp tháng đầu tiền là 22.000.000 đồng, những tháng tiếp theo thì góp không đầy đủ như đã thoả thuận, phía bà G, ông Th đã trả dần được số tiền 85.000.000 đồng thì ngừng cho đến nay. Vì vậy, bà N yêu cầu buộc bà G, ông Th có trách nhiệm liên đới trả số tiền còn nợ là 701.000.000 đồng.

Ngày 27/3/2023 bà Nguyễn Bé N có ý kiến xin rút lại một phẩn yêu cầu

khởi kiện bà G, ông Th đối với số tiền là 42.000.000 đồng. Vì vậy, bà Nguyễn Bé N yêu cầu bà G, ông Th cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền hụi là 659.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị G và ông Đặng Huy Th đã được tống đạt hợp lệ

Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bà đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng bà G, ông Th vẫn vắng mặt, không rõ lí do.

Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn bà Đinh Huỳnh Ngọc Tr yêu

cầu bà G,ông Th cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền hụi là 659.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, đồng thời yêu cầu duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án và không giao nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân biểu ý kiến về việc

tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều

471 Bộ luật dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà G và ông Th cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền 659.000.000 cho bà Nguyễn Bé N. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé N đối

với bà G và ông Th với số tiền 659.000.000 đồng. Tiếp tục duy trì áp quyết định

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/4/2023

để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được

xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử

nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn tranh chấp với bị đơn về hợp đồng góp

hụi được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; và bị

đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Phú Tân. Nên, Tòa án nhân dân huyện Phú

Tân thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a

khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị G và ông Đặng

Huy Th đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do đó, Tòa

án tiến hành xét xử vắng mặt bà bà Nguyễn Thị G và ông Đặng Huy Th theo

quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà G, ông Th có

trách nhiệm liên đới trả số tiền hụi là 659.000.000 đồng. Tài liệu chứng cứ do

nguyên đơn cung cấp là 04 giấy hụi có chữ ký của bà G và ông Th, tờ cam kết

ngày 16/01/2022. Ngoài ra, còn các lời khai của người làm chứng bà Phan Thị

Ng, Lý Thị Kim C là những người cùng tham gia góp hụi và là hụi viên trong

các dây hụi do bà Nguyễn Bé N làm chủ. Quá trình tố tụng Toà án đã tiến hành

tống đạt các văn bản cho bà G và ông Th, tuy nhiên phía bị đơn vắng mặt không

lý do và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên

đơn.

Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng góp hụi, trên cơ

sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; lời trình bày của nguyên đơn; căn

cứ vào 04 giấy hụi và tờ cam kết giữa chủ hụi bà Nguyễn Bé N và hụi viên bà

Nguyễn Thị G, ông Đặng Huy Th thể hiện bà G, ông Th có có ký tên vào sổ hụi

và tờ cam kết ngày 16/01/2022 nội dung thể hiện bà G cam kết mỗi tháng trả

22.000.000 đồng cho đến hết số tiền hụi là 786.000.000 đồng, trong đó bà G đã

góp hụi nhiều lần được số tiền 127.000.000 đồng, còn nợ lại 659.000.000 đồng.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả số tiền hụi còn nợ là 659.000.000 đồng là có

cơ sở phù hợp với Điều 29 Nghị định 144/2006/CP ngày 27/11/2006 của chính

phủ về họ, hụi, biêu, phường nên được chấp nhận.

Xét về trách nhiệm trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu vợ chồng bà G, ông

Th có trách nhiệm liên đới trả số tiền trên. Xét thấy, bà G và ông Th có quan hệ

vợ chồng và hôn nhân vẫn còn tồn tại, bà G, ông Th tham gia nhiều dây hụi,

trong đó có chữ ký của Th trong các sổ hụi, chữ ký của bà G trong sổ hụi và tại tờ cam kết trả tiền hụi do bà N, đối với các giao dịch liên quan đến hoạt động kinh tế gia đình của bà G, ông Th thì vợ chồng bà G, ông Th phải có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ hụi trên. Do đó, bà G và ông Th vi phạm nghĩa vụ của hụi viên nên theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bà Nguyễn Thị G và ông Đặng Huy Th cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Bé N số tiền hụi là 659.000.000 đồng.

Đối với, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà G, ông

Th với số tiền 42.000.000 đồng là tự nguyện nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn với số tiền 42.000.000 đồng.

Về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2023/QĐ-

BPKCTT ngày 25/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI số loại (model code): RGV 120, số máy F124124323, số khung RU 120UA 24323, màu sơn: Xanh đen, biển số đăng ký: 67H1-747.95; giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do ông Đăng Huy Th đứng tên. Do yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé N được chấp nhận nên Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/4/2023 và huỷ quyết định số 03/2023/QĐ-BPBĐ ngày 25/4/2023 trả lại số tiền 6.000.000 đồng theo tài khoản phong toả số xxxxxxxxxxxx ngày 25/4/2023 tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh An Giang cho bà Nguyễn Bé N là phù hợp.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp

nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.360.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 227; 244; Điều 147, Điều 271, Điều

273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471; 288 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 15; 29 Nghị định 144/2006/CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về

họ, hụi, biêu, phường;

Khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12

năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé N đối với bà Nguyễn

Thị G và ông Đặng Huy Th.

Buộc bà Nguyễn Thị G và ông Đặng Huy Th có trách nhiệm liên đới trả

cho bà Nguyễn Bé N số tiền 659.000.000 đồng.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Bé N đối với bà

Nguyễn Thị G và ông Đặng Huy Th với số tiền 42.000.000 đồng.

3. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số

03/2023/QĐ-BPKCTT ngày 25/4/2023 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân đối

với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI số loại (model code): RGV 120, số

máy F124124323, số khung RU 120UA 24323, màu sơn: Xanh đen, biển số

đăng ký: 67H1-747.95; giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô do ông Đặng Huy Th

đứng tên.

4. Huỷ Quyết định số 03/2023/QĐ-BPBĐ ngày 25/4/20232023 của Toà

án nhân dân huyện Phú Tân về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm.

Bà Nguyễn Bé N được nhận lại số tiền 6.000.000 đồng theo tài khoản

phong toả số xxxxxxxxxxxx ngày 25/4/2023 tại Ngân hàng TMCP Công

Thương Việt Nam – chi nhánh An Giang, phòng giao dịch Phú Tân.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ

quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày

có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền

phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các

khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số

tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ

luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị G và ông Đặng Huy Th phải

chịu 30.360.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các

đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An

Giang xét xử phúc thẩm. Riêng được sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn

kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án

dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên

thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi

hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật

thi hành.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ