- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Bà L kiện đòi tiền hụi NTL"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bà NTL và ông Lê Văn C về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89 /2023/DS-ST Ngày: 14/9/2023. V/v: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BT
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Võ Thị Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Minh Quang.
2. Bà Đào Thị Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như, thư ký Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh BT
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Quí - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh BT xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2023/QĐXX- ST ngày 17 tháng 8 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2023/QĐST-DS ngày 29/8/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp Chợ, xã TL, huyện BĐ, tỉnh BT.
Bị đơn: Bà NTL, sinh năm 1969 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Sân Banh, xã TL, huyện BĐ, tỉnh BT.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn C, sinh năm 1967 (Vắng mặt).
Địa chỉ: ấp Sân Banh, xã TL, huyện BĐ, tỉnh BT.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện ngày 12/6/2023 (bl 02), Bản tự khai ngày 31/7/2023 (bl 16) cũng như tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày nội dung khởi kiện và yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Giữa bà và bà NTL hai bên có việc chơi hụi với nhau. Hụi do bà NTL làm chủ, còn bà là hụi viên. Quá trình tham gia chơi hụi thì bà đã đóng hụi cho bà Loan tổng số tiền là 72.000.000 đồng.
Sau khi bà Loan vỡ hụi thì giữa bà và bà Loan hai bên có kết nợ lại và bà Loan có làm giấy tay xác nhận còn nợ tiền hụi bà số tiền là 72.000.000 đồng (bảy hai triệu đồng), giấy do bà Loan tự viết, tự ký tên xác nhận (bl 24).
Tại phiên tòa, bà yêu cầu bà NTL, ông Lê Văn C phải có nghĩa vụ trả cho bà số nợ hụi là 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng), bà không yêu cầu tính lãi.
* Tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai, Biên bản hòa giải ngày 31/7/2023 (bl 11-13) bị đơn bà NTL trình bày:
Bà thừa nhận bà có làm chủ hụi, bà Nguyễn Thị L là hụi viên, bà thừa nhận bà có nợ tiền hụi bà L tổng số tiền hụi là 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) như bà L khởi kiện.
Qua yêu cầu khởi kiện của bà L thì bà đồng ý trả nợ hụi cho bà Nguyễn Thị L.
Đối với ông Lê Văn C là chồng bà, vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định, bà đã làm chủ hụi hơn 20 năm qua, thu nhập hàng tháng của bà vài chục triệu đồng, bà làm chủ hụi, ông C có đi góp hụi cho bà nhưng bà đã trả tiền công cho ông C là 150.000 đồng/ buổi. Tuy nhiên, ông C không biết gì về số tiền nợ hụi của bà, bà có giao giấy tờ của Tòa án cho ông C nhưng ông nói không liên quan gì đến số nợ hụi nên không đến Tòa án, cũng không có ý kiến gì hết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các Văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông không có ý kiến phản đối hay có yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà L. Tòa án không thu thập được lời khai của ông Lê Văn C.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
- Thẩm phán được phân công thụ lý xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” là đúng quan hệ tranh chấp. Quan hệ pháp luật này thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện BĐ theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ, tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo đúng thời hạn.
- Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập số 363/GTT-TA ngày 31/7/2023 (BL 30) mời bà NTL đến Toà án nhân dân huyện BĐ vào ngày 17/8/2023 (BL 26) để hoà giải nhưng bà Loan, không đến. Vì vậy, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập số 1903/GTT-TA ngày 13/6/2023 (BL 19); giấy triệu tập số 364/GTT-TA ngày 31/7/2023 (BL 32) mời ông Lê Văn C đến Toà án nhân dân huyện BĐ vào ngày 31/7/2023 (BL 11); ngày 17/8/2023 (BL 26) nhưng ông C không đến. Vì vậy, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 73 BLTTDS
2. Về nội dung vụ án, nhận thấy:
Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà Nguyễn Thị L cung cấp là tờ giấy nhận nợ với số tiền là 72.000.000 đồng có chữ ký và chữ viết tên NTL (BL 24). Tại biên bản làm việc ngày 31/7/2023 (BL 11) bà Loan trình bày: ...Tôi thừa còn nợ bà L số tiền 72.000.000 đồng. Tôi đồng ý trả số tiền này cho bà L. Chứng cứ bà L cung cấp là hợp lệ, bị đơn thừa nhận, không có ý kiến phản đối. Đây là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà L là bên cho mượn tài sản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà L buộc bị đơn trả số tiền 72.000.000 đồng có căn cứ. Ghi nhận bà L không yêu cầu tính lãi (BL 02; 11)
Về trách nhiệm liên đới: Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/7/2023 (BL 13), bà NTL trình bày: ...những hụi viên ở xa thì tôi đi góp hoặc tôi thuê chồng là ông Lê Văn C đi gom hụi và trả công 150.000 đồng/buổi ....... Như vậy, ông C biết việc bà Loan làm chủ hụi. Toà án đã thu thập được bản sao trích lục kết hôn giữa ông C và bà Loan (BL 14). Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập số 1903/GTT-TA ngày 13/6/2023 (BL 19); giấy triệu tập số 364/GTT-TA ngày 31/7/2023 (BL 32) mời ông Lê Văn C đến Toà án nhân dân huyện BĐ vào ngày 31/7/2023 (BL 11); ngày 17/8/2023 (BL 26) nhưng ông C không đến. Như vậy, ông C đã từ bỏ các quyền của mình theo quy định tại Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, bà L khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện BĐ giải quyết buộc vợ chồng bà NTL và ông Lê Văn C phải liên đới trả cho bà số tiền 72.000.000 đồng là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, đề nghị HĐXX căn cứ các áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, Điều 92 BLTTDS năm 2015, Điều 471 BLDS năm 2015, Điều 27, khoản 1 Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà NTL và ông Lê Văn C liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền 72.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà NTL có đăng ký thường trú và hiện còn đang sinh sống tại xã TL, huyện BĐ, tỉnh BT. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh BT.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện bà Loan đòi lại số tiền hụi còn thiếu. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn bà NTL có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt (bl 29), ông Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng ông vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L yêu cầu bà NTL phải trả số tiền nợ hụi còn thiếu là 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) và không tính lãi suất.
Hội đồng xét xử, xét thấy: Theo lời khai của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án thì hai bên đều xác định giữa hai bên có giao dịch chơi hụi với nhau, theo đó bà NTL thừa nhận có nợ tiền hụi của bà Nguyễn Thị L số tiền hụi là 72.000.000 đồng, thừa nhận có ký tên xác nhận vào giấy nợ do bà L giao nộp cho Tòa án. Căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không cần phải chứng minh nên công nhận bà Loan có nợ tiền hụi của bà L số tiền 72.000.000 đồng là có thật.
Do đó, bà Nguyễn Thị L khởi kiện đòi bà NTL phải trả số tiền hụi 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng) là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Bà Nguyễn Thị L chỉ yêu cầu trả vốn mà không yêu cầu bà NTL phải trả lãi suất. Xét thấy, đây là quyền quyết định và định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xét trách nhiệm liên đối của ông Lê Văn C, Hội đồng xét xử, xét thấy:
Căn cứ theo Giấy kết hôn giữa bà NTL và ông Lê Văn C thì ông bà có đăng ký kết hôn vào năm 1988 nên ông, bà là vợ chồng hợp pháp, hiện tại vẫn sống và sinh hoạt chung gia đình với nhau. Đồng thời mục đích bà Loan làm chủ hụi đã hơn 20 năm, vay tiền để lo kinh tế gia đình, chứ không cờ bạc hay tiêu xài cá nhân nên ông Lê Văn C có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà Trần Thị Liên là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện BĐ về quan điểm giải quyết vụ án: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị L được chấp nhận toàn bộ, nên bà NTL và ông Lê Văn C phải liên đới chịu án phí của số tiền 72.000.000 đồng, số tiền án phí được tính là 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 471 của Bộ luật dân sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bà NTL và ông Lê Văn C về việc “Tranh chấp Hợp đồng góp hụi”.
2. Buộc vợ chồng bà NTL và ông Lê Văn C phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền nợ hụi là 72.000.000 đồng (bảy mươi hai triệu đồng).
3. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị L không yêu cầu trả lãi suất của số tiền nêu trên.
4. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoán tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà NTL và ông Lê Văn C phải có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền án phí là 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm ngàn đồng).
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005042 ngày 28/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện BĐ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Đối với bà NTL, ông Lê Văn C vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh BT
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (phòng KTNV và THA);
- VKSND huyện BĐ;
- Chi cục THADS huyện BĐ;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Võ Thị Loan
7. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
8. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Bùi Công Du phải chịu số tiền án phí là 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0019421 ngày 22/11/2018 số tiền 10.760.000 đồng (mười triệu bảy trăm sáu chục ngàn đồng); biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0014992 ngày 10/4/2018 số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng);
Bà Lê Thị Bạch Yến, ông Đoàn Thanh Hùng được miễn nộp toàn bộ số tiền mà ông, bà phải chịu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BT; - VKSND huyện BĐ; - Chi cục THA huyện BĐ; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Loan |