vanban.org

Bản án 89/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 12/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lưu Xuân K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lưu Xuân K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 22/3/2021. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Lưu Xuân K phải bồi thường cho bị hại cô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Xuân K - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Xuân K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƠN TRẠCH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022/HSST.
Ngày: 12/5/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoài Đức Huệ.

Bà Trần Thanh Phương.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hùng Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2022/HSST, ngày 21 tháng 3 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2022/HSST-QĐ ngày 27/4/2022 đối với bị cáo:

Lƣu Xuân K, sinh năm 1997 tại Nam Định; Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn H, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn H, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; con ông: Lưu Thế Q và bà Vũ Thị L; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 03 anh em và chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2021 và chuyển tạm giam đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Nhơn Trạch.

- Bị hại: Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ Trấn B (vắng mặt).

Địa chỉ: Số H24, khu phố 7, phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Người liên quan: Anh Liêu Tr, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Bờ Đậu, xã Viên An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

(Bị cáo Lưu Xuân K có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 07/2020, Lưu Xuân K (sinh năm 1997 là công nhân làm việc tại Công ty TNHH Chemtro Vina thuộc KCN Nhơn Trạch 2, huyện Nhơn Trạch trong lúc gửi xe tại nhà xe công ty thì nhặt được 01 thẻ giữ xe số 4243 ghi trên thẻ là Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B nên cất vào bóp. Đến khoảng 20 giờ ngày 20/3/2021, K nảy sinh ý định dùng thẻ xe trên vào nhà xe công ty để chiếm đoạt xe của Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B đang giữ, K quan sát xung quanh phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Honda Sonic mang biển kiểm soát 83Y1-025.65 của anh Liêu Tr (sinh năm 1999), ngụ tại ấp Bờ Đập, xã Viên An, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đang gửi giữ tại nhà xe công ty. Sau đó K dẫn bộ chiếc xe trên ra cổng Công ty rồi đưa thẻ xe mà K nhặt được cho bảo vệ của Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B, bảo vệ thấy đúng là thẻ giữ xe của công ty nên cho K dẫn xe ra khỏi công ty. Do không có chìa khóa nên K dẫn xe ra vòng xoay đường 25C thuộc KCN Nhơn Trạch 3 và dùng điện thoại di động hiệu Oppo của K lên mạng tìm người làm chìa khóa và thỏa thuận làm 01 chìa khóa với giá 450.000 đồng. Khoảng 30 phút sau có một người thanh niên chạy đến (chưa rõ nhân thân) đến sửa khóa. Sau khi làm xong chìa thì K nổ máy chạy đến thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đến phòng trọ của em là Lưu Văn T (sinh năm 2000), tạm trú tại phường 9, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng với mục đích cất giấu tài sản. Đến 04 giờ 15 ngày 21/03/2021, anh Liêu Tr ra nhà xe thì phát hiện chiếc xe của anh bị mất nên đến Đồn công an khu công nghiệp Nhơn Trạch trình báo. Qua kiểm tra định vị phát hiện chiếc xe trên đang ở thành phố Đà Lạt nên Đồn Công an khu công nghiệp Nhơn Trạch phối hợp cùng Công an phường 9, thành phố Đà Lạt đến vị trí xe được cất giấu thì phát hiện K và chiếc xe trên nên lập hồ sơ bắt giữ K chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Nhơn Trạch để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 36/KLĐ -HĐĐ ngày 23/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Nhơn Trạch kết luận 01 (một) chiếc mô tô, nhãn hiệu Honda Sonic, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 83 1-025.65 có giá trị là 61.200.000 đồng (sáu mươi mốt Tr hai trăm nghìn đồng).

- Về tình tiết tăng nặng: Không có

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại.

Về tang vật thu giữ:

- 01 USB (chuyển theo hồ sơ vụ án).

- 01 (một) chiếc mô tô, nhãn hiệu Honda Sonic, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 83Y1-025.65 đã trả cho anh Liêu Tr.

- 01 thẻ giữ xe số 4243 (chuyển theo hồ sơ vụ án).

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo và số tiền 1.500.000 đồng của Lưu Xuân K.

Quá trình điều tra, bị cáo Lưu Xuân K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 54/CT-VKSNT, ngày 16 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch truy tố bị cáo Lưu Xuân K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm c, khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lưu Xuân K từ 02 năm 06 tháng - 03 năm tù giam.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa tuyên:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Oppo của Lưu Xuân K là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng của Lưu Xuân K để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Lưu Xuân K có trách nhiệm trả lại cho Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B số tiền 3.100.000 đồng là tiền Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B bồi thường chi phí sửa chữa xe cho anh Liêu Tr theo qui định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị hại Công ty TNHH dịch vụ Bảo vệ Trấn B đã được Tr tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Liêu Tr có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nhơn Trạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa bị cáo Lưu Xuân K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu đã thu thập được tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 20/3/2021, tại Công ty TTHH Chemtro Vina thuộc KCN Nhơn Trạch 2, huyện Nhơn Trạch, Lưu Xuân K đã thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Sonic, màu trắng đỏ đen, mang biển kiểm soát 83 1-025.65 có giá trị là 61.200.000 đồng (sáu mươi mốt Tr hai trăm nghìn đồng) của Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B do anh Liêu Tr đang gửi giữ thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Lưu Xuân K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác gây ảnh hưởng xấu về an ninh và trật tự trong xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi và hậu quả do hành vi của mình gây ra nhưng do tham lam, lười lao động và xem thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B yêu cầu bị cáo Lưu Xuân K phải bồi thường thiệt hại với số tiền 3.100.000 đồng là tiền Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B bồi thường chi phí sửa chửa xe cho anh Liêu Tr. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho công ty toàn bộ số tiền nêu trên, xét việc đồng ý bồi thường của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tuyên:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo của Lưu Xuân K là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng của Lưu Xuân K để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Đối với Lưu Văn T có hành vi chứa chấp xe mô tô, nhãn hiệu Honda Sonic, màu trắng đỏ đen, biển kiểm soát 83 1-025.65 do Lưu Xuân K phạm tội mà có nhưng do Tuân không biết đây là tài sản trộm cắp nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý là đúng quy định.

Đối với người thanh niên chưa rõ nhân thân có hành vi làm chìa khóa cho K hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiến hành xác minh nên lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lưu Xuân K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Lưu Xuân K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 22/3/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 buộc bị cáo Lưu Xuân K phải bồi thường cho bị hại công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B số tiền 3.100.000 đồng.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không thi hành về phần tiền bồi thường thì phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm thanh toán tương ứng với thời gian chậm thanh toán. Mức lãi suất do các bên tự thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm. Nếu các bên không thỏa thuận được thì mức lãi suất chậm trả áp dụng là 20%/năm.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo của Lưu Xuân K là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng của Lưu Xuân K để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/9/2021 và giấy nộp tiền ngày 01/9/2021 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Nhơn Trạch).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lưu Xuân K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Bị hại Công ty TNHH dịch vụ bảo vệ Trấn B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Liêu Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ