vanban.org

Bản án 89/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 09/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: …

[2]. Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyên C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. [3]. Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyên C 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 27/4/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "C trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: …
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022/HS-ST
Ngày: 09/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

a

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bình Luyến

+ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Kiểm

2. Bà Đào Thị Kim Liên.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hoàng Hà-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố VT, tỉnh PT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, tỉnh PT, tham gia phiên toà: Ông Phạm Khắc Việt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố VT, tỉnh PT, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2022/LTST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2022/QĐXXST-HS ngày 25/7/2022, đối với:

* Bị cáo: Lê Nguyên C; Sinh năm 1957; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ 1, khu QT, phường DL, thành phố VT, tỉnh PT; Q tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Con ông: Lê Nguyên T (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị Q (đã chết); Vợ Nguyễn Thị T (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2003; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án HSST số 229 ngày 25/11/2014, Tòa án nhân dân thành phố VT xử 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 1.460.000 đồng, trước đó ngày 25/7/2014, C đã có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, Ra trại ngày 23/8/2015); Bản án HSST số 224 ngày 28/12/2015, Tòa án nhân dân thành phố VT xử 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 440.000 đồng, Ra trại ngày 01/10/2016); Bản án HSST số 169 ngày 31/10/2017, Tòa án nhân dân thành phố VT xử 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 4.750.000 đồng, Ra trại ngày 27/7/2018); Bản án HSST số 167 ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố VT xử 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 750.000 đồng, Ra trại ngày 26/9/2019); Bản án HSST số 13 ngày 20/01/2020, Tòa án nhân dân thành phố VT xử 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; Bản án HSST số 51 ngày 05/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố VT xử 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản 110.000 đồng, Ra trại ngày 03/3/2022); Nhân thân: Bản án HSST số 13 ngày 29/3/1983, Tòa án nhân dân tỉnh PT xử 20 năm tù về tội: “Cướp tài sản công dân”, C đã chấp hành xong toàn bộ bản án này; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/4/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh PT;(Có mặt).

* Bị hại: Anh Cù Kiến Q

Địa chỉ:Quán cà phê NL- thuộc khu BĐ, phường DL, thành phố VT, tỉnh PT; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 04 giờ ngày 27/4/2022, Lê Nguyên C, sinh năm 1957, trú tại: Tổ 1, khu QT, phườ ng DL, thành phố VT, tinh P T mô ̣̉

t minh

̀ điều khiển xe mô tô nhãn hiê ̣u WOLDWIDE, BKS: 98F9-0865 đi từ nhà đến khu vực đườ ng Quang Trung vớ i mu ̣c đich xem ai có

́ sơ hở thi trô ̣̀ m cắp tài sản. Khi đi đến quán cà phê NL thuô ̣c khu BĐ, phườ ng DL, thành phố VT, tinh PT̉ do anh Cù Kiến Q, sinh năm 1994, trú tại: thi ̣ trấn HH, huyê ̣n H H, tỉnh PT làm chủ, Cảnh quan sát thấy ta ̣i khu vực nhà lợp mái lá giáp với bờ tường rào của quán cà phê có mô ̣t số giò hoa phong lan loa ̣i lan Ha ̣c Vi đượ̃

c treo bằng dây kim loa ̣i bên dướ i mái nhà. Quan sát xung quanh thấy không có người, C dựng xe mô tô rồi trèo lên bờ tườ ng của khu vực nhà lợp mái lá. Sau đó, Cảnh đứ ng trên bờ tườ ng dùng 02 tay nhấc 02 giò lan ra khỏi giá treo và đă ̣t xuống bờ tườ ng, thấy phía bên trong nhà lợp mái lá vẫn còn 03 giò hoa phong lan nữa (trong đó có 01 giò lan trồng trong chậu đất màu nâu đỏ) nên C nhảy xuống tườ ng rào đi vào bên trong nhấc 03 giò hoa phong lan xuống rồi đă ̣t ra bờ tườ ng. Sau đó, C tiếp tu ̣c đi phía trên bờ tườ ng quán hướ ng ra đườ ng Quang Trung để xem còn gi để trô ̣̀

m cắp thi thầ

́y có 01 giỏ nhựa màu đen kich thướ

́ c 47cm x 40cm x 30cm được đă ̣t ở trên bàn ta ̣i khu vực rử a cốc chén của quán nên C nhảy xuống đi vào phía trong quán lấy chiếc giỏ nhựa rồi quay la ̣i khu vực bờ tường đă ̣t 05 giò hoa phong lan vừ a lấy được vào trong giỏ nhựa màu đen, C bê chiếc giỏ cho lên xe mô tô rồi đi về nhà. Đến khoảng 05 giờ 10 ngày 27/4/2022, anh Cù Kiến Q phát hiê ̣n bi ̣ mất 05 giò hoa phong lan nên đa trĩ nh bà

́o Công an phường DL, thành phố VT, tỉnh PT.

Qua rà soát, Công an phường DL đã phát hiê ̣n và tạm giữ ta ̣i nhà Lê Nguyên Cảnh 05 giò lan C đã trộm cắp tại quán cà phê NewLand của anh Cù Kiến Q. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Woldwide, màu tím, BKS: 98F9-0865.

Ngày 27/4/2022, Công an phường DL đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan C sát điều tra - Công an thành phố VT để giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Lê Nguyên C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cơ quan C sát điều tra - Công an thành phố VT ra Yêu cầu định giá tài sản đối với số tài sản thu giữ của Lê Nguyên C. Tại kết luận định giá tài sản số 392/2022/HĐĐG-KL ngày 29/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản - UBND thành phố VT kết luận:

“1. Giá 01 chậu gốm đất mà u đỏ, đã qua sử dụng, có giá 15.000 đồng.

2. Giá 01 giỏ nhựa mà u đen có kich thướ c 47cm x 40cm x 30cm, đã qua

́

sử dụng có giá : 60.000 đồng

3. Giá 05 giò lan Hạc Vi, cây đang sinh trưởng và phá t triển tốt, có giá :

̃ 1.000.000 đồng.” Như vậy, tổng giá trị tài sản Lê Nguyên C đã trộm cắp là 1.075.000 đồng.

Ngày 30/4/2022, Cơ quan C sát điều tra - Công an thành phố VT ra Quyết định trả lại 05 giò lan, 01 chậu gốm đất màu đỏ và 01 giỏ nhựa màu đen Lê Nguyên C đã trộm cắp cho anh Cù Kiến Q, anh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Woldwide, màu tím, BKS: 98F9-0865, C dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe trên có đăng ký xe mang tên Thân Hoài Nam, sinh năm: 1965, trú tại: Khu 34, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Năm 2005, ông Nam đã bán chiếc xe trên cho ông Đỗ Thanh Bình, sinh năm: 1964, trú tại: Tổ 3, khu Hương Trầm, phường DL, thành phố VT, tỉnh PT. Đến tháng 03/2022, do quen biết nên ông Bình đã cho Lê Nguyên C chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại. Hiện nay chiếc xe trên đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an thành phố VT.

Về điều kiện kinh tế, Cơ quan điều tra đã xác minh, xác định: Lê Nguyên C có 01 xe mô tô BKS: 98F9-0865 đã bị thu giữ và thửa đất số 150, tờ bản đồ số 01, diện tích 350m2 (trong đó có 50m2 đất ở và 300m2 đất vườn), trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4 tại tổ 1, khu QT, phường DL, thành phố VT, tỉnh PT.

Tại bản cáo trạng số: 81/CT-VKS-VT ngày 08 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, truy tố bị cáo Lê Nguyên C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Q hội.

Về tội danh: Bị cáo Lê Nguyên C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Nguyên C từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 27/4/2022.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

- Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an thành phố VT trả lại tài sản cho anh Cù Kiến Q, gồm: 05 giỏ lan Hạc Vĩ, 01 giỏ nhựa mà đen và 01 chậu gốm đất màu đỏ có biên bản lưu trong hồ sơ là hợp pháp.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu WOLDWIDE, màu sơn nâu, BKS 98F9-0865, số khung: Y0059094, số máy: 005590011, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái (Thực tế xe đã thay vỏ ngoài và vỏ máy nhãn hiệu của xe Honda Dream).

* Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt chobị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố VT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố VT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại cơ quan điều tra và vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Vào khoảng 04 giờ ngày 27/4/2022, tại quán cà phê NewLand thuộc khu Bảo Đà, phường DL, thành phố VT, Lê Nguyên C đã có hành vi trộm cắp 05 giỏ lan Hạc Vĩ và 01 giỏ nhựa màu đen, trị giá 1.075.000 đồng của anh Cù Kiến Q. Mặc dù, giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng Lê Nguyên C đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội lần này. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Nguyên C đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản.

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) ...

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.

. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ điều kiện để nhận thức pháp luật, để nhận biết hành vi của mình là hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã 8 lần có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; trong đó có 01 lần bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và 01 lần bị Tòa án xử phạt về tội Cướp tài sản công dân, tuy đã được xóa án tích. Nhưng tiếp theo đó từ năm 2014 đến năm 2020 bị cáo đã 06 lần bị Tòa án xử phạt về tội Trộm cắp tài sản đến nay chưa được xóa án tích; mặc dù tiền án của bị cáo là tình tiết định tội cho hành vi phạm tội lần này của bị cáo nên không xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo là người sống không tuân thủ pháp luật. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có tài sản nhưng là tài sản cố định, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

- Bị hại là anh Cù Kiến Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì. Nên không đặt ra giải quyết và cần xác nhận biên bản trao trả tài sản do Cơ quan CSĐT lập, lưu trong hồ sơ là hợp pháp.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu WOLDWIDE, màu sơn nâu, BKS 98F9-0865, số khung: Y0059094, số máy: 005590011, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái (Thực tế xe đã thay vỏ ngoài và vỏ máy nhãn hiệu của xe Honda Dream), đăng ký xe mang tên Thân Hoài Nam, sinh năm 1965, ở tại khu 34, xã Song Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan CSĐT đã xác minh và xác định, chiếc xe máy này là tài sản của bị cáo C. Năm 2005, ông Nam bán cho ông Đỗ Thanh Bình, sinh năm 1964, ở tại tổ 3, khu Hương Trầm, thành phố VT. Tháng 3/2022 ông Bình đã cho C làm phương tiện đi lại. Đến ngày 27/4/2022, bị cáo C dùng chiếc xe máy này làm phương tiện phạm tội. Do vậy, tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Q hội.

[2]. Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyên C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

[3]. Xử phạt: Bị cáo Lê Nguyên C 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 27/4/2022.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4].Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng:

- Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an thành phố VT trả lại tài sản cho anh Cù Kiến Q, gồm: 05 giỏ lan Hạc Vĩ, 01 giỏ nhựa mà đen và 01 chậu gốm đất màu đỏ có biên bản lưu trong hồ sơ là hợp pháp.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu WOLDWIDE, màu sơn nâu, BKS 98F9-0865, số khung: Y0059094, số máy: 005590011, xe có 01 gương chiếu hậu bên trái (Thực tế xe đã thay vỏ ngoài và vỏ máy nhãn hiệu của xe Honda Dream).

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/8/2022, tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố VT, tỉnh PT).

[5]. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Nguyên C phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ