- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn N - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội Cướp giật tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2022/HS-ST Ngày 21 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Sơ
Ông Phùng Quốc Quân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: ông Nguyễn Đình Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2022/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28a/2022/HSST-QĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
HÀ VĂN N. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 09/3/2002, tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Thái. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông Hà Văn N1, sinh năm 1975 và bà Hoàng Thị N2, sinh năm 1980. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2021 đến ngày 20/01/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn, đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty trách nhiệm hữu hạn S. Địa chỉ: Tầng A1, tháp A2, tòa A3, số 29, đường Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Ngọc L. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Việt Q, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tiểu khu Sao Đỏ 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chuyển phát nhanh D. Địa chỉ: Số D1, tổ D2, khu D3 phường Nông Trang, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Ngọc L – nhân viên pháp chế. Vắng mặt.
- Hoàng Thị N2, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Hà Văn H, sinh năm 2002. Địa chỉ: Bản G, xã H, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/12/2021 Hà Văn N sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu MEP48 Pro, màu đen do N mượn của Hà Văn H (sinh năm 2002, trú tại bản G, xã H, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La) để truy cập ứng dụng Shopee. N đăng ký thông tin giả mang tên Nguyễn Đức Đạt, địa chỉ nhận hàng tại trại nuôi lợn bản Nà Nọi, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La rồi đặt mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, loại 128Gb với giá 25.027.600VNĐ của công ty trách nhiệm hữu hạn S, trụ sở chính tại tầng A1, tháp A2, tòa A3, số 29, đường Liễu Giai, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Khoảng 18 giờ 56 phút ngày 21/12/2021 khi N đang ở nhà thì Nguyễn Việt Q (sinh năm 1986, trú tại tiểu khu Sao Đỏ 1, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La) là nhân viên giao hàng, gọi điện đến và yêu cầu N chuẩn bị số tiền 25.027.600VNĐ để thanh toán đơn hàng. N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26B2-436.42 của Hoàng Thị Thin (sinh năm 1980 – là mẹ đẻ của N) đến giấu xe tại nương cà phê phía sau trại nuôi lợn Tuyết – Huyền thuộc bản Nà Nọi, xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn (cách cổng phụ của trại nuôi lợn khoảng 600m). Khoảng 19 giờ 27 phút cùng ngày, Q gọi điện đến thì N nói không ra được cổng chính và hẹn gặp Q ở cổng phụ của trại lợn đồng thời đi bộ đến điểm hẹn chờ Q. Khoảng 3 phút sau Q điều khiển xe mô tô tới, Q lấy 01 hộp đựng hàng được gói bằng bìa carton bên trong có chiếc Iphone 13, cầm ở tay phải tiến về phía N, chỉ chi N xem tem mác còn N vẹn của hộp đựng hàng. Quan sát thấy Q cầm hộp đựng hàng trên tay không chắc, N đã nhanh chóng dùng tay phải giật lấy hộp đựng hàng trên tay của Q rồi quay người bỏ chạy. Bị giật bất ngờ, Q đã dùng tay với, gạt chiếc điện thoại hiệu MEP48 Pro màu đen trên tay trái N, làm chiếc điện thoại rơi xuống vệ đường. N chạy thoát vào nương cà phê đến vị trí cất xe mô tô, bóc hộp carton lấy chiếc Iphone 13 cất trong túi áo ngực, đồng thời vứt lại chiếc hộp carton và 02 mảnh nilon màu trắng rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Cùng ngày Nguyễn Việt Q đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn trình báo sự việc.
Ngày 22/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã triệu tập Hà Văn N đến làm việc, N đã khai nhận toàn bộ hành vi. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã thi hành lệnh giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Hà Văn N.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh; 01 điện thoại di dộng hiệu MEP48 Pro, màu đen; 01 chiếc giày vải màu xám; 01 chiếc hộp carton kích thước 25cm x 15cm x 10cm, một góc đã bị bóc rách; 02 tấm nolon màu trắng, loại dùng để chống va đập, mỗi tấm có kích thước 40cm x 24cm; 01 chiếc quần bò màu xanh; 01 chiếc áo khoác màu đen; 01 xe mô tô biển kiểm soát 26B2-436.42.
Ngày 27/12/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn ra yêu cầu định giá tài sản yêu cầu Hội đồng định giá huyện Mai Sơn định giá tài sản đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh, loại 128GB.
Ngày 28/12/2021 Hội đồng định giá tài sản huyện Mai Sơn ra bản kết luận định giá tài sản số 1545/KL-HĐ, kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh, loại 128GB, có giá trị 20.000.000VNĐ”.
Bản cáo trạng số 57/CT-VKSMS ngày 16/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Hà Văn N về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ N quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội Cướp giật tài sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc quần bò dài màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 áo khoác màu đen, nhãn hiệu Klato, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc giày vải, màu xám, loại giầy lưới, cỡ 40, nhãn hiệu Ievo, đã qua sử dụng cũ; 02 tấm nilon màu trắng, loại chống va đập, mỗi tấm có kích thước 40cm x 24cm, đã qua sử dụng cũ; 01 hộp bìa carton có kích thước 25cm x 15cm x 10cm, một góc hộp đã bọ bóc rách, bên trong hộp có nhiều mảnh xốp màu trắng, đã qua sử dụng cũ.
Trả lại cho bị cáo Hà Văn N: 01 hộp carton màu trắng – xanh, bên trong hộp có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh, loại 128GB, kèm theo 01 dây sạc điện thoại màu trắng.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Hà Văn H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu MEP48 Pro loại màn hình cảm ứng, màu đen, màn hình phía trước bị nứt vỡ, kèm theo 01 sim điện thoại số 0903275674, đã qua sử dụng cũ.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trao trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – chị Hoàng Thị N2: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 256B2-436.42.
Về bồi thường dân sự: Chấp nhận việc gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 25.027.600VNĐ.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Bị cáo Hà Văn N tự bào chữa: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Hoàng Thị N2: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo Hà Văn N đã khai nhận: Do ham muốn cá nhân, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Nguyễn Việt Q, ngày 21/12/2021 Hà Văn N đã nhanh chóng giật trên tay Q 01 hộp dựng hàng, bên trong chứa 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh có giá trị là 20.000.000VNĐ.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp do cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn lập hồi 20 giờ 30 phút ngày 22/12/2021; biên bản khám nghiệm hiện trường do cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn lập hồi 09 giờ 00 phút ngày 22/12/2021, phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; qua tranh luận tại phiên tòa không có gì mâu thuẫn.
Như vậy, hành vi của bị cáo Hà Văn N lợi dụng sơ hở, giật điện thoại của anh Nguyễn Việt Q rồi nhanh chóng tẩu thoát, trị giá tài bị cáo chiếm đoạt là 20.4000.000VNĐ đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Viện kiểm sát truy tố và Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn xét xử bị cáo Hà VănN là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hội đồng xét xử thấy rằng: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa bàn xã Chiềng Mung nói riêng và toàn huyện Mai Sơn nói chung.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, bị hại đã có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được Hội đồng xét xử áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét về nhân thân: bị cáo Hà Văn N có nhân thân tốt từ trước đến nay bị cáo chưa vi phạm pháp luật, bị cáo sống cùng gia đình, có nơi cư trú rõ ràng, được gia đình bảo lãnh và được chính quyền địa phương xác nhận. Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, xét thấy: Không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và tạo được sức răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.
Về bồi thường dân sự:
Gia đình bị cáo Hà Văn N đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 25.027.600VNĐ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chuyển phát nhanh D - đại diện là bà Phạm Ngọc L (chịu trách nhiệm bồi thường trước 80% cho bị hại) đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn Shopee chịu trách nhiệm bồi thường 20% giá trị đơn hàng, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chuyển phát nhanh D sau khi nhận được số tiền bồi thường từ gia đình bị cáo N đã thanh toán 20% cho công ty Shopee, công ty Shopee không có ý kiến đề nghị gì nên Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc quần bò dài màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 áo khoác màu đen, nhãn hiệu Klato, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc giày vải, màu xám, loại giầy lưới, cỡ 40, nhãn hiệu Ievo, đã qua sử dụng cũ; 02 tấm nilon màu trắng, loại chống va đập, mỗi tấm có kích thước 40cm x 24cm, đã qua sử dụng cũ; 01 hộp bìa carton có kích thước 25cm x 15cm x 10cm, một góc hộp đã bọ bóc rách, bên trong hộp có nhiều mảnh xốp màu trắng, đã qua sử dụng cũ: Xét thấy đây là những vật dùng vào việc phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 hộp carton màu trắng – xanh, bên trong hộp có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh, loại 128GB, kèm theo 01 dây sạc điện thoại màu trắng: Xét thấy chiếc điện thoại trên là tài sản hợp pháp của Công ty trách nhiệm hữu hạn S-Trading, trong quá trình điều tra bị cáo N và gia đình đã bồi thường cho công ty S-Trading bằng giá trị chiếc điện thoại là 25.027.600VNĐ; do đó xét thấy cần trả chiếc điện thoại trên cho bị cáo N là hợp lý.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu MEP48 Pro loại màn hình cảm ứng, màu đen, màn hình phía trước bị nứt vỡ, kèm theo n01 sim điện thoại số 0903275674, đã qua sử dụng cũ: Xét thấy là tài sản hợp pháp của anh Hà Văn H, anh H không biết việc bị cáo N sử dụng tài sản trên vào việc phạm tội nên cần trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Hà Văn H.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26B2-436.42: Xét thấy là tài sản hợp pháp của chị Hoàng Thị N2, chị N2 không biết việc bị cáo N sử dụng tài sản vào việc phạm tội; cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trao trả chiếc xe trên cho chị N2 là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Tuyên bố bị cáo Hà Văn N phạm tội Cướp giật tài sản. Xử phạt bị cáo Hà Văn N 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/7/2022).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Giao bị cáo Hà Văn N cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc quần bò dài màu xanh, đã qua sử dụng cũ; 01 áo khoác màu đen, nhãn hiệu Klato, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc giày vải, màu xám, loại giầy lưới, cỡ 40, nhãn hiệu Ievo, đã qua sử dụng cũ; 02 tấm nilon màu trắng, loại chống va đập, mỗi tấm có kích thước 40cm x 24cm, đã qua sử dụng cũ; 01 hộp bìa carton có kích thước 25cm x 15cm x 10cm, một góc hộp đã bọ bóc rách, bên trong hộp có nhiều mảnh xốp màu trắng, đã qua sử dụng cũ.
Trả lại cho bị cáo Hà Văn N: 01 hộp carton màu trắng – xanh, bên trong hộp có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu xanh, loại 128GB, kèm theo 01 dây sạc điện thoại màu trắng.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Hà Văn Hòa: 01 điện thoại di động nhãn hiệu MEP48 Pro loại màn hình cảm ứng, màu đen, màn hình phía trước bị nứt vỡ, kèm theo n01 sim điện thoại số 0903275674, đã qua sử dụng cũ.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đã trao trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan – chị Hoàng Thị Thin: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 26B2-436.42.
3. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 25.027.600VNĐ.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/7/2022); Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mai Sơn; - Công an huyện Mai Sơn; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La; - Chi cục THADS huyện Mai Sơn; - Bị cáo; Bị hại ; - Người có QLNV liên quan ; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Minh Quân |