vanban.org

Bản án 89/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Minh N được ly hôn ông Lê Thanh V. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020 cho bà Phùng Thị Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà Phùng Thị Minh N không yêu cầu ông Lê Thanh V cấp dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "PHÙNG THỊ MINH N - LÊ THANH V - LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NINH HÒA
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022/HNGĐ-ST
Ngày 03 tháng 8 năm 2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chung

Bà Nguyễn Thị Xuân Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 313/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2022 và số Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2022, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Minh N, sinh năm: 1985

Nơi cư trú: thôn P, xã N, thị xã NH, tỉnh KH. Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Thanh V, sinh năm: 1984

Nơi cư trú: thôn N, xã N, thị xã NH, tỉnh KH. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn bà Phùng Thị Minh N trình bày: Bà và ông Lê Thanh V tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã N. Quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kình cãi và đánh nhau. Bà đã cố gắng hết sức để dung hòa nhưng mâu thuẫn xảy ra ngày càng nhiều, khiến bà cảm thấy quá mệt mỏi, vợ chồng không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm chăm sóc tới ai. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà và ông V có với nhau một con chung là Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020. Nay ly hôn, bà xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020 đến tuổi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Thanh V: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục triệu tập, xác minh, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với ông V nhưng ông V không đến Tòa án để giải quyết vụ án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án không thu thập được lời khai và ý kiến của ông Lê Thanh V đối với các vấn đề cần giải quyết của vụ án.

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập được gồm: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh Lê Tuệ L (bản sao); Chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu (bản photo); Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân; Biên bản xác minh hộ khẩu thường trú; Đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phùng Thị Minh N được ly hôn với ông Lê Thanh V; về con chung: Bà N và ông V có 01 con chung là Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020. Bà N xin được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020 đến tuổi trưởng thành, bà N không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung; Cháu L dưới 36 tháng tuổi nên giao cho bà N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận; về tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn ông Lê Thanh V có hộ khẩu thường trú tại: Thôn N, xã N, thị xã NH, tỉnh KH nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Minh N và ông Lê Thanh V tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, thị xã NH, tỉnh KH cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73, ngày 16 tháng 10 năm 2020 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, giữa bà và ông V không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kình cãi và đánh nhau. Bà N đã cố gắng hết sức để dung hòa nhưng mâu thuẫn xảy ra ngày càng nhiều khiến bà cảm thấy quá mệt mỏi, bà và ông V không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm chăm sóc tới ai. Bà N xác định không còn tình cảm với ông V nên yêu cầu ly hôn với ông V; bị đơn ông Lê Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án, chứng tỏ ông V có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn, đoàn tụ gia đình với bà N. Như vậy, có thể thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N và ông V đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững không đạt được; yêu cầu xin ly hôn của bà N là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà N và ông V có 01 con chung là Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020. Bà N xin được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên là Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020 đến tuổi trưởng thành, bà N không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung; Cháu L dưới 36 tháng tuổi nên giao cho bà N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Xét thấy, yêu cầu của bà N là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Phùng Thị Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phùng Thị Minh N được ly hôn ông Lê Thanh V.

2. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên Lê Tuệ L, sinh ngày 03/12/2020 cho bà Phùng Thị Minh N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà Phùng Thị Minh N không yêu cầu ông Lê Thanh V cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Lê Thanh V có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Phùng Thị Minh N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0004754 ngày 26/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Phùng Thị Minh N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ