- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Danh Thị Sà R.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 9 – 2022 “V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Huy Tùng.
2/ Ông Trần Hoàng Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thức, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2022/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2022/QĐXXST–HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Danh Thị Sà R, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện L, tỉnh S.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Phước T, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Danh Thị Sà R trình bày:
Bà Danh Thị Sà R với ông Huỳnh Phước T kết hôn với nhau vào năm 2011. Hai người đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh S cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 225 ngày 26/12/2011.
Sau khi kết hôn thời gian đầu hai người sống hạnh phúc. Nhưng sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hạnh phúc thường xuyên cãi vả.
Thời gian chung sống ông bà có hai con chung tên Huỳnh Phước T1, sinh ngày 17/9/2012 và Huỳnh Thiên K, sinh ngày 23/01/2019, hiện đang sống cùng ông Huỳnh Phước T.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Nay bà Danh Thị Sà R yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Phước T.
- Về con chung: Đồng ý giao hai con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà R không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Huỳnh Phước T không có lời trình bày do vắng mặt:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 91/2022/TB-TLVA ngày 11 tháng 5 năm 2022, tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông Huỳnh Phước T nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Danh Thị Sà R. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với ông T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt ông T, không tiến hành hòa giải được và ông T cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Danh Thị Sà R ly hôn với ông Huỳnh Phước T. Về con chung: Giao hai con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục, bà R không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Huỳnh Phước T và bà Danh Thị Sà R đều vắng mặt nhưng nguyên đơn bà R có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt còn ông T thì vắng mặt lần thứ 2 không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về nội dung: Nguyên đơn bà Danh Thị Sà R vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với ông Huỳnh Phước T.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Danh Thị Sà R với ông Huỳnh Phước T là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng một thời gian sau, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà R yêu cầu được ly hôn với ông T là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Huỳnh Phước T1, sinh ngày 17/9/2012 và Huỳnh Thiên K, sinh ngày 23/01/2019. Hiện các con đang sống cùng với ông T. Bà R đồng ý giao hai con cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy hai con đang sống cùng ông T và để tránh làm xáo trộn cuộc sống bình thường của trẻ nên yêu cầu của bà R phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do bà R yêu cầu nên bà R phải chịu theo luật định.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Danh Thị Sà R.
- Về hôn nhân: Bà Danh Thị Sà R được quyền ly hôn với ông Huỳnh Phước T.
- Về con chung: Giao hai cháu Huỳnh Phước T1, sinh ngày 17/9/2012 và Huỳnh Thiên K, sinh ngày 23/01/2019 cho ông Huỳnh Phước T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Danh Thị Sà R không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp bà R lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì ông T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bà R. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông Huỳnh Phước T không phải phải nộp án phí.
+ Bà Danh Thị Sà R phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002085 ngày 04/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S. Như vậy bà R đã nộp xong án phí.
Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND huyện T; -Chi cục THA huyện T; -TAND tỉnh S (P.KTNV&THA); -Các đương sự. - UBND xã T, huyện T, tỉnh S; -Lưu HSVA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |