vanban.org

Bản án 89/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [2]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022/HNGĐ-ST
Ngày 14-10-2022
V/v tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Huy Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền và ông Nguyễn Hồng Quân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải Liên - Kiểm sát viên.

Vào hồi 9 giờ 00 phút, ngày 14 tháng 10 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2022/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2022/QĐXX-ST ngày 13 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị O; Sinh năm: 1987; Địa chỉ: Thôn Tân Trù (trước là Linh Tr nay là thôn Linh V), xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Trần Xuân H; Sinh năm 1985; Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Tân Trù (trước là Linh Tr nay là thôn Linh V), xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (Hiện đã mất tích theo Quyết định số 02/2020/QĐST-DS ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân); Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Trần Thị O trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị O và anh Trần Xuân H được tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn ngày 01/12/2008 tại UBND xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung tại thôn thôn Tân Trù (trước là Linh Tr nay là Trung V), xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 24/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh đã có Quyết định số: 02/2020/QĐST-DS, về việc tuyên bố anh Trần Xuân H mất tích. Vì vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án xử chị được ly hôn với anh Trần Xuân H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Linh G, sinh ngày 03/01/2010. Nguyên đơn có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung.

Nguyện vọng của con chung xin được ở với nguyên đơn.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Do các đương sự vắng mặt, HĐXX tiến hành xem xét và công bố các tài liệu thu thập lưu tại hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Xuân phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thủ tục tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn mất tích nên không trực tiếp nhận các văn bản tố tụng mà phải tiến hành niêm yết, đồng thời không tham gia phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ.

Về nội dung vụ án: Về tình cảm xét thấy anh H đã mất tích đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị O cho chị O được ly hôn anh H; Giao con chung Trần Thị Linh G, sinh ngày 03/01/2010 cho chị Trần Thị O trực tiếp nuôi dưỡng, anh Trần Xuân H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Chị Trần Thị O phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

. Về nội dung:

.Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị O và anh Trần Xuân H kết hôn với nhau vào ngày 01/12/2008 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Liên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị O: Anh Trần Xuân H đã được Tòa án ra Quyết định tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật, hiện không có tin tức gì còn sống hay đã chết. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 2 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

. Về con chung: Hiện bị đơn đang mất tích, con chung do nguyên đơn nuôi dưỡng, nguyện vọng của con chung mong muốn được ở với mẹ, nên HĐXX cần giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp. Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX miễn xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 57, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị O được ly hôn với anh Trần Xuân H.

[3]. Về con chung: Giao con chung Trần Thị Linh G; sinh ngày 03/01/2010 cho chị Trần Thị O trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cong chung đủ 18 tuổi. Anh Trần Xuân H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép cản trở.

[4]. Về án phí: Chị Trần Thị O phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011858 ngày 25/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tiền án phí chị Trần Thị O đã nộp đủ.

[5]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ