- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Châu Thị T - Nguyễn Công H"
- Tòa quyết gì? 1/. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Châu Thị T đối với ông Nguyễn Công H. Cụ thể tuyên:
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 89/2022/HN-ST Ngày: 04-05-2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thành;
2. Ông Nguyễn Văn Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 06/2022/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Châu Thị T, sinh năm 1986; Nơi cư trú: ấp K, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Công H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre.
Các đương sự đều có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến ngày 14/02/2022, nguyên đơn bà Châu Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2014, bà và ông Nguyễn Công H tự nguyện sống chung, đến ngày 09/7/2015 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng cũng hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiến nói chung nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hiện bà và ông H đã sống ly thân từ giữa năm 2019 đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Duy P, sinh ngày 27/11/2015 hiện đang sống chung với ông H. Sau khi ly hôn, bà đồng ý để con chung cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng, bà không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Tại đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và giải quyết vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Công H trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Châu Thị T tự nguyện sống chung vào năm 2014, đến ngày 09/7/2015 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng cũng hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiến nói chung nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Hiện ông và bà T đã sống ly thân từ giữa năm 2019 đến nay. Nay bà T yêu cầu ly hôn với ông thì ông cũng đồng ý ly hôn, ông không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Duy P, sinh ngày 27/11/2015 hiện đang sống chung với ông. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H. Ghi nhận bà T, ông H không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con chung của ông H. Ghi nhận ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
+Về tài sản chung: Bà T, ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Bà T, ông H khai không có nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Châu Thị T và ông Nguyễn Công H đều có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa; đồng thời có đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ vào các Điều 207, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông H.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Châu Thị T và ông Nguyễn Công H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang vào ngày 09/7/2015 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiến nói chung nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông H.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà T và ông H thực tế là có xảy ra và giữa hai người đã sống ly thân từ khoảng giữa năm 2019 đến nay. Với khoảng thời gian trên cũng đủ cho ông, bà suy nghĩ lại tình cảm vợ chồng thế nhưng cả hai cũng không tìm cho mình một biện pháp nào để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông H là đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là biện pháp tốt nhất nhằm đem lại tự do cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H là phù hợp theo quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, bà T và ông H có 01 con chung tên Nguyễn Duy P, sinh ngày 27/11/2015 hiện đang sống chung với ông H. Sau khi ly hôn, ông H có yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, bà T cũng đồng ý để con chung cho ông H nuôi. Xét đây là sự tự nguyện của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Ghi nhận ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
+Về tài sản chung: Bà T, ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Bà T, ông H khai không có nên không xét đến.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà T phải chịu án phí là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 147, 207, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1/. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Châu Thị T đối với ông Nguyễn Công H. Cụ thể tuyên:
Bà Châu Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Công H. Ghi nhận bà T, ông H không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
2/. Về con chung và việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Công H được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Duy P, sinh ngày 27/11/2015 (hiện đang sống chung với ông H). Ghi nhận ông H không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.
Bà Châu Thị T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trong trường hợp bà T lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì ông H có quyền yêu cầu Tòa án quyết định hạn chế quyền thăm nom con của bà T.
Vì lợi ích của con chung sau này, theo yêu cầu của bà T, ông H hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
3/- Về tài sản chung: Bà T, ông H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4/- Về nợ chung: Bà T, ông H khai không có nên không xét đến.
5/. Về án phí: Bà Châu Thị T phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001855 ngày 04/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre. Bà T đã nộp đủ án phí.
6/. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Chợ Lách; - Chi cục T.H.A DS huyện Chợ Lách; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu HSVA+VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Lê Chí Hậu |