vanban.org

Bản án 89/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc bị đơn ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/02/2019, tính đến hết ngày 18/8/2022 tổng dư nợ gốc và lãi suất là 248.410.958 (hai trăm bốn mươi tám … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NHNN&PTNT Chi nhánh Hoài Ân- Lê Văn P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP Về chính sách tín dụng phục vụ ph…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀI ÂN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022/DS-ST
Ngày 18-8-2022
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hồng Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Liên;

Bà Nguyễn Thị Bích Hiển.

Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Mơ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2022/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2022/QĐST-DS ngày 28 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam;

Địa chỉ: Số 2 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn Thành, chức vụ: Tổng giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Kim V, chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Mỹ Thành, thuộc chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hoài Ân.

- Bị đơn: Ông Lê Văn Ph, sinh năm 1969; bà Trần Thị Bích N, sinh năm 1978;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Nguyên đơn và bị đơn ông Lê Văn Ph có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn bà Trần Thị Bích Ng vắng mặt lần hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/02/2022 và các lời khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) Việt Nam – ông Vũ Kim V trình bày:

Ông Lê Văn Phước và bà Trần Thị Bích N có vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hoài Ân – Phòng giao dịch Mỹ Thành theo hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22 tháng 02 năm 2019, với hạn mức tín dụng 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, thời hạn hiệu lực của hạn mức là 36 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng, thời hạn cho vay cụ thể tùy thuộc vào đối tượng vay do hai bên thỏa thuận được ghi trên từng giấy nhận nợ. Mục đích vay vốn để chi phí sản xuất, kinh doanh đời sống của hộ gia đình.

Ngày 27 tháng 3 năm 2020 nhận nợ số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng theo giấy nhận nợ số 4308-LDS-2020 001505 để mua sắm vật dụng sinh hoạt. Hiện dư nợ 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Biện pháp bảo đảm: Cho vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Hoài Ân lưu giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AN 000979 do UBND huyện Hoài Ân cấp ngày 02 tháng 4 năm 2009.

Việc vi phạm nghĩa vụ: Tính đến hết ngày 25/02/2022, tổng dư nợ của ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Phòng giao dịch Mỹ Thành thuộc Agribank Chi nhánh huyện Hoài Ân là: 235.539.725 (hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm hai mươi lăm) đồng, trong đó: nợ gốc: 200.000.000 đồng, nợ lãi: 35.539.725 đồng.

Agribank Chi nhánh Hoài Ân đã nhiều lần yêu cầu ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng thực hiện nghĩa vụ trả nợ nêu trên. Tuy nhiên, tính đến nay, ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Agribank, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Agribank, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Agribank gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của Agribank.

Nay, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân tuyên buộc ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Agribank toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) đến hết ngày 25/02/2022, tổng nợ của ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại Phòng giao dịch Mỹ Thành thuộc Agribank Chi nhánh huyện Hoài Ân là: 235.539.725 (hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm hai mươi lăm) đồng, trong đó: nợ gốc: 200.000.000 đồng, nợ lãi: 35.539.725 đồng.

Yêu cầu tuyên buộc ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số 4308-LAV-201900457, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng trả hết nợ gốc cho Agribank; tuyên nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Agribank thông qua Agribank Chi nhánh Hoài Ân có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản của ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/5/2022, bị đơn ông Lê Văn Ph trình bày:

Ông Ph công nhận do cần vay vốn để làm ăn nên vợ chồng ông có vay tiền của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh Hoài Ân theo Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/02/2019 với số tiền vay là 200.000.000 đồng. Thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng; Lãi suất vay trả theo quy định của hợp đồng. Đến nay vợ chồng ông đã trả lãi cho Ngân hàng được 2 quý tiền lãi, số tiền bao nhiêu thì ông không nhớ. Do việc chăn nuôi dịch bệnh, thua lỗ nên không còn khả năng thanh toán tiền lãi và nợ gốc cho Ngân hàng, nên Ngân hàng Agribank đã khởi kiện vợ chồng ông ra tòa. Vợ chồng ông không thế chấp tài sản mà chỉ giao cho Ngân hàng Agribank Chi nhánh Hoài Ân giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 000979 do UBND huyện Hoài Ân cấp ngày 02/4/2009 mang tên vợ chồng ông. Đến ngày 25/02/2022, vợ chồng ông còn nợ Ngân hàng Agribank số tiền 235.539.725 đồng (trong đó: Gốc 200.000.000 đồng và lãi 35.539.725 đồng). Nay Ngân hàng Agribank Việt Nam khởi kiện thì vợ chồng ông chấp nhận trả số nợ còn lại nêu trên, nhưng xin trả dần mỗi quý 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) cho đến khi hết nợ.

Đối với bị đơn bà Trần Thị Bích Ng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại Điều 177; 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bà Ng không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà Ng. Do đó Tòa án vẫn tiến hành các thủ tục tố tụng và đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn thụ lý hồ sơ, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự cần rút kinh nghiệm.

Về nội dung đề xuất: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đối với ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng.

Buộc ông Ph, bà Ng có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Agribank Việt Nam với số tiền tạm tính đến ngày 18/8/2022 là 248.410.958 đồng và từ ngày 19/8/2022 đến ngày ông Ph, bà Ng trả hết nợ cho ngân hàng. Nếu ông Ph, bà Ng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Agribank thông qua Agribank Chi nhánh huyện Hoài Ân có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản của ông Ph, bà Ng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Ngân hàng Agribank Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng ở thôn Đ, xã Ân Mỹ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/02/2019 với số tiền nợ gốc là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và lãi thỏa thuận theo hợp đồng. Nên Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn bà Trần Thị Bích Ng được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do; đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Kim V và bị đơn ông Lê Văn Ph có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/2/2019, báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4308-LDS-2020001505 ngày 27/3/2020 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng có vay vốn của Ngân hàng Agribank Việt Nam với hạn mức tín dụng 200.000.000 đồng; mục đích vay vốn: chi phí sản xuất, kinh doanh, đời sống của hộ gia đình; giải ngân ngày 27/3/2020; thời hạn vay: 12 tháng, ngày trả nợ cuối cùng 27/03/2021; lãi suất 10%/năm, lãi suất quá hạn 15%/năm, lãi suất đối với lãi chậm trả, phí (nếu có): theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng; biện pháp bảo đảm cho vay theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Thủ tướng chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn, Ngân hàng Agribank đã lưu giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 000979 do UBND huyện Hoài Ân cấp ngày 02/4/2009. Đến ngày 09/10/2020, bị đơn đã trả cho Agribank chi nhánh Hoài Ân 02 quý tiền lãi với số tiền 10.136.987 đồng. Từ đó đến nay Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông Phước, bà Nguyên vẫn không thực hiện. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết nên nguyên đơn Ngân hàng Agribank Việt Nam đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng phải trả toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 18/8/2022 tổng cộng là 248.410.958 đồng, trong đó: nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 48.410.958 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/2/2019 cho đến ngày thanh toán hết nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận.

Đối với lời nại của bị đơn Lê Văn P thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng Agribank Chi nhánh Hoài Ân theo Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/02/2019 với số tiền vay là 200.000.000 đồng và lãi suất chậm trả theo hợp đồng đến ngày 25/02/2022 là 35.539.725 đồng, giao cho Ngân hàng giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 000979 do UBND huyện Hoài Ân cấp ngày 02/4/2009 mang tên vợ chồng ông và đồng ý trả nợ, nhưng xin trả dần mỗi quý 30.000.000 đồng cho đến khi hết nợ là không có thiện chí trả nợ, nhằm chiếm dụng lâu dài khoản tiền trên của nguyên đơn nên không có cơ sở để chấp nhận.

Đối với bị đơn Trần Thị Bích Ng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định tại Điều 177; 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bà Nguyên không đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà Ng. Tuy nhiên, việc ông Lê Văn Ph vay tiền của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam theo Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/02/2019 phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhằm phát triển kinh tế của gia đình. Do đó, bà Ng phải có nghĩa vụ cùng ông Ph trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền đã vay là phù hợp với quy định tại Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Từ những phân tích và nhận định trên, có cơ sở để Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tổng dư nợ gốc và lãi suất là 248.410.958 (hai trăm bốn mươi tám triệu bốn trăm mười nghìn chín trăm năm mươi tám) đồng. Trong đó: nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 48.410.958 đồng.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Về án phí: Ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Buộc bị đơn ông Lê Văn Ph và bà Trần Thị Bích Ng có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/02/2019, tính đến hết ngày 18/8/2022 tổng dư nợ gốc và lãi suất là 248.410.958 (hai trăm bốn mươi tám triệu bốn trăm mười nghìn chín trăm năm mươi tám) đồng. Trong đó: nợ gốc 200.000.000 đồng, nợ lãi 48.410.958 đồng.

2. Về án phí:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm bị đơn Lê Văn Ph và Trần Thị Bích Ng phải chịu 12.420.548 (mười hai triệu bốn trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám) đồng.

2.2. Hoàn trả 5.875.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010519 ngày 02/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Ân cho nguyên đơn Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

3.1. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Ph, bà Ng còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Ph, bà Ng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Trường hợp ông Ph, bà Ng không thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng số 4308-LAV-201900457 ngày 22/02/2019 thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản của ông Ph, bà Ng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

3.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết bản án theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ