- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tiến T - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn c điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| `TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2021/HS-PT Ngày 30- 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tài Sử
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Chiến và ông Lê Quốc Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Đoàn Thùy An là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 112/2021/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo: Phan Tiến T do có kháng nghị của Viện kiểm sát đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2021/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp.
Bị cáo bị kháng nghị: Phan Tiến T; sinh ngày 20 tháng 02 năm 1998; nơi sinh: tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn Đắk M, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tiến T và con bà Trịnh Thị H, sinh năm 1969; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2021 - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Năm 2020, Phan Tiến T đi từ nhà ở huyện T đến xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để làm phụ hồ. Đến đầu năm 2021, do việc làm không ổn định nên T nghỉ làm và nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người khác rồi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định của mình, T đến thuê phòng trọ tại thôn 3, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để ở, đợi đến tối sẽ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu TDDREAM, biển kiểm soát 81K6 - 8301 đi trên QL14 trên địa bàn các xã N, xã K và xã Đắk W, khi gặp những người phụ nữ đi xe mô tô để túi xách hoặc điện thoại sơ hở sẽ điều khiển xe mô tô bám theo, khi đến đoạn đường vắng người sẽ áp sát chiếm đoạt tài sản rồi điều khiển xe bỏ chạy. Để tránh bị phát hiện, T tháo biển kiểm soát 81K6 - 8301 ra, thay vào bằng biển kiểm soát 48F4-0816 do T nhặt được, đồng thời mặc áo khoác và đeo khẩu trang y tế. Bằng thủ đoạn như trên, từ 28/02/2021 đến ngày 19/4/2021, Phan Tiến T đã thực hiện được 05 vụ cướp giật tài sản như sau:
Vụ th nhất: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/02/2021, T điều khiển xe mô tô đi từ xã N hướng đến thị trấn K để cướp giật tài sản. Khi đi đến khu vực ngã ba Đ, thuộc thôn 7, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 48K1-113.70 do chị Bùi Thị Loan A, sinh năm 2000, trú tại: Thôn 1, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông điều khiển chở bạn là Đàm Thị Thu T, sinh năm 2000, trú tại: Thôn 5, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đi cùng chiều phía trước, bên hông phải của chị A có đeo 01 túi xách màu đen nhãn hiệu ZaZa nên T điều khiển xe bám theo. Đến đầu đường đôi thị trấn K, chị A rẽ phải để đi vào huyện T thì T tiếp tục bám theo. Khi đến bờ đập xã K thuộc thôn 5, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì T điểu khiển xe vượt lên bên trái, dùng tay giật túi xách của chị A rồi bỏ chạy về phía trước. Chị A hô cướp và đuổi theo nhưng không kịp. T đi về phòng trọ kiểm tra thì thấy trong túi xách có số tiền 500.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX màu đồng, một hộp phấn nước hiệu JI MI LIANG LI chưa qua sử dụng. Ngày hôm sau, T bán điện thoại cho một người đàn ông thu mua điện thoại dạo (chưa rõ nhân thân, lai lịch) được 2.000.000 đồng, còn túi xách và hộp phấn thì T đem v t bỏ tại khu vực Cầu T thuộc xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Toàn bộ số tiền có được do cướp giật và bán điện thoại của chị A, T đã tiêu xài hết.
Vụ th 2: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 03/3/2021, T điều khiển xe mô tô đi từ xã N hướng đến thị trấn K để cướp giật tài sản. Khi đi đến khu vực UBND xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 48H1-225.45 do Thị H, sinh năm 1995, trú tại: Bon B, xã B, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông điều khiển, phía sau chở chị Thị H, sinh năm 1986, trú tại: Bon B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông chạy cùng chiều phía trước. Lúc này, chị H có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 2025 Prince trong hộc để đồ phía trước của xe. Thấy vậy, T điều khiển xe mô tô vượt lên bên trái, dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị H rồi điều khiển xe bỏ chạy. Đến ngày 04/3/2021, T đưa chiếc điện thoại này đến tiệm cầm đồ Đ do anh Phan Huy Đ, sinh năm 1984, trú tại: Thôn 11, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông cầm cố được số tiền 3.500.000 đồng.
Vụ th 3: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 15/3/2021, T điều khiển xe mô tô đi từ phòng trọ hướng đến thành phố G, tỉnh Đắk Nông để cướp giật tài sản. Khi đến khu vực chợ xã N thì thấy chị Đậu Hương Khánh L, sinh năm 2002, trú tại: Thôn 9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 48H1-242.38 đi từ chợ N hướng về thành phố G, tỉnh Đắk Nông ở túi quần phía sau bên trái của chị L có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, một phần điện thoại lộ ra nên T đi theo sau. Khi đi đến đoạn đường rẽ vào chùa P thuộc thôn 9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T điều khiển xe vượt lên bên phía trái, dùng tay phải giật chiếc điện thoại Iphone X rồi tăng ga bỏ chạy về hướng thành phố G. Sáng hôm sau, T bán chiếc điện thoại này cho một người đàn ông thu mua điện thoại dạo (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.200.000 đồng, T đã tiêu xài hết
Vụ th 4: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 10/04/2021, Trường điều khiển xe mô tô đi từ N về hướng thị trấn K để cướp giật tài sản. Khi đi đến khu vực giáp ranh giữa xã N và xã Đ, T thấy chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1987, trú tại: Thôn 2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 48H1-192.64 đi cùng chiều phía trước, ở túi quần phía trước bên phải của chị H có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno4 Pro, một phần điện thoại lộ ra ngoài nên T điều khiển xe bám theo chị H. Khi đến đoạn đường thuộc thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T điều khiển xe vượt lên bên phải, dùng tay trái giật điện thoại của chị H rồi điều khiển xe bỏ chạy về phía trước, sau đó quay xe chạy về phòng trọ. Ngày hôm sau, T bán điện thoại này cho một người đàn ông đi thu mua điện thoại dạo (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.000.000 đồng, T đã tiêu xài hết.
Vụ th 5: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 19/4/2021, T điều khiển xe mô tô từ phòng trọ hướng về thị trấn K để cướp giật tài sản. Khi đến khu vực ngã ba Đ thuộc thôn 7, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T thấy chị Phan Thị S, sinh năm 1998, trú tại: Thôn 2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 48H1-190.60 chở con gái là cháu Phạm Quỳnh N ngồi ở phía trước đi cùng chiều phía trước, ở túi quần phía sau bên trái của chị S có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93, một phần điện thoại lộ ra ngoài nên T bám theo chị S. Khi đến trước xưởng điều H thuộc thôn 6, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T điều khiển xe vượt lên bên trái, dùng tay phải giật điện thoại của chị S rồi điều khiển xe mô tô quay lại hướng xã N để về phòng trọ. Ngày hôm sau, T bán điện thoại này cho một người đàn ông đi thu mua điện thoại dạo (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 800.000 đồng, T đã tiêu xài hết.
Bản kết luận định giá tài sản số 10/KLHDĐG ngày 07/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận:
01 điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX màu đồng, đã qua sử dụng, tại thời điểm xảy bị cướp giật có giá trị: 7.600.000 đồng; 01 hộp phấn nước hiệu JI MI LIANG LI chưa qua sử dụng, tại thời điểm bị cướp giật có giá trị 1.200.000 đồng; 01 túi xách nhãn hiệu ZaZa, loại túi da màu đen, kích thước (25 x 30) cm tại thời điểm bị cướp giật có giá trị 400.000 đồng (tài sản của chị Bùi Thị L A).
01 điện thoại di động hiệu Vivo 2025 price, màu đen đã qua sử dụng, tại thời điểm bị cướp giật có giá trị 6.750.000 đồng (tài sản của chị Thị H).
01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị cướp giật có giá trị 6.750.000 đồng (tài sản của chị Đậu Hương Khánh L).
01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A93 màu xanh trắng, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị cướp giật có giá trị 6.000.000 đồng (tài sản của chị Phan Thị S).
Bản kết luận định giá tài sản số 17/KLHDĐG ngày 22/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 4 pro màu xanh, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị cướp giật có giá trị: 6.650.000 đồng (tài sản của chị Nguyễn Thị Thu H).
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 35.850.000 đồng (Ba mươi lăm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Ngoài ra Phan Tiến T còn khai nhận thêm 03 vụ cướp giật tài sản khác như sau:
Vụ th nhất: Vào thời gian trước khi bị bắt khoảng 01 tháng (T không nhớ ngày), vào khoảng 19h00, trên QL14 đoạn gần đường đôi thị trấn K, thuộc khu vực thôn 6, xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T giật được chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Xiaomi màu đen ở túi quần phía sau của một phụ nữ đi xe mô tô kiểu dáng Vision theo hướng xã N về thị trấn K.
Vụ th 2: Vào thời gian trước khi bị bắt khoảng 01 tháng (T không nhớ ngày), trên QL14 đoạn gần nhà thờ N, thuộc thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T giật được chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Oppo màu trắng ở túi quần phía sau của một phụ nữ ngồi sau xe mô tô kiểu dáng Sirius màu trắng, do một người phụ nữ khác điều khiển đang đi hướng về thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Vụ th 3: Vào thời gian trước khi bị bắt khoảng 02 tháng (T không nhớ ngày), vào lúc khoảng 19h30 phút, trên QL14 đoạn thuộc thôn 5, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, T giật được chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung màu vàng ở túi quần phía sau của một phụ nữ ngồi sau xe mô tô tay ga (chưa rõ đặc điểm), do một người phụ nữ khác điều khiển đang đi hướng về thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện T và thông báo truy tìm người bị hại, vật ch ng của vụ án nhưng chưa có kết quả. Cũng trong thời gian trên, Công an xã N và Công an xã K không nhận được tin báo nào về hành vi cướp giật tài sản. Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào có kết quả sẽ đề nghị xử lý sau, không giải quyết trong vụ án này.
Đối với người đàn ông đi thu mua điện thoại dạo theo lời khai của bị can, Cơ quan điều tra đã xác minh tại các xã N, xã Đ và xã K nhưng không có thông tin về người này. Do đó, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh và đề nghị xử lý sau.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật ch ng:
Thu giữ của bị can:
01 xe mô tô nhãn hiệu TDDREAM, kiểu dáng xe Wave, không có tem xe, số máy 52FMH002952, số khung UM7XL02952, biển kiểm soát 81K6 – 8301
01 áo khoác nam, có màu trắng ở phần vai và màu đen ở phần tay áo và thân áo, trên áo có dòng chữ Mike
01 quần Jean nam, màu xanh, phần thắt lưng quần có gắn một thắt lưng có mặt kim loại màu trắng
01 mũ bảo hiểm màu xám, trên đỉnh mũ có viền màu xanh, đỏ.
05 khẩu trang y tế màu xanh.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Grand Prime.
01 ốp lưng điện thoại trong suốt, kích thước (16,5 x 7,6)cm.
01 hợp đồng cầm đồ ghi ngày 04/3/2021 của tiệm cầm đồ Đ.
01 tờ giấy có kích thước (22 x 9,5)cm, là vỏ của hộp đựng cáp điện thoại.
Số tiền 850.000 đồng (tám trăm năm mươi nghìn đồng).
Thu giữ của anh P: 01 biển kiểm soát có số hiệu: 48F4-0816.
Thu giữ của chị T: 01 hộp đựng điện thoại di động bằng giấy cát tông, trên bề mặt có chữ VIVO V20, điện thoại di động V2025 số Imei 1: 866243058758292, số Imei 2: 86624305875284.
Thu giữ tại tiệm cầm đồ Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2025 price màu đen, số imei 1: 866243058758292; imei 2: 866243058758284.
Ngày 12/7/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật ch ng, trả lại 01 hộp đựng điện thoại, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2025 price và 01 ốp lưng điện thoại cho bị hại là chị T.
Về nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu TDDREAM biển kiểm soát 81K6 – 8301 mà bị can dùng làm phương tiện phạm tội, bị can khai nhận được anh trai là P (sinh năm 1995, trú tại: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông) cho để làm phương tiện đi lại. Anh Phan Tiến N trình bày: Vào năm 2014, anh đến xã, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông làm phụ hồ cho một công trình xây dựng (không còn nhớ tên chủ thầu). Do chủ thầu nợ tiền công nên có đưa cho anh chiếc xe nêu trên để trừ vào tiền công, anh đồng ý nhận xe nhưng chưa nhận được giấy ch ng nhận đăng ký xe. Sau đó, chủ thầu bỏ đi đâu thì anh không biết và vẫn đang còn nợ tiền công của anh. Anh sử dụng xe đến năm 2016 thì giao lại cho T quản lý, sử dụng. Kết quả tra c u nguồn gốc phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì chiếc xe trên do chị Trương Thị L, địa chỉ tại: thôn I, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai đ ng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, hiện nay chị L không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ mới nên cơ quan điều tra chưa làm việc được. Ngày 15/7/2021, cơ quan điều tra đã ra thông báo tìm kiểm chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô này nhưng chưa có kết quả.
Đối với biển kiểm soát có số hiệu 48F4-0816, là biển kiểm soát của chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel do chị Đào Thị Thanh M (sinh năm 1982, trú tại: Thôn 1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông) đ ng tên chủ sở hữu. Chị M trình bày là đã bán chiếc xe này cho một người phụ nữ không rõ nhân thân, lai lịch. Do đó, cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, không giải quyết trong vụ án này.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Grand Prime, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị can, không dùng vào việc phạm tội.
Đối với số tiền 850.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tiền của bà Trịnh Thị H (là mẹ của bị can) cho bị can mượn. Do đó, cơ quan điều tra đã lập biên bản trả lại số tiền này cho bà H.
Đối với 01 hợp đồng cầm đồ ngày 04/3/2021 và 01 tờ giấy có kích thước (22 x 9,5) cm, là ch ng c ch ng minh hành vi phạm tội của bị can nên được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 áo khoác, 01 quần Jean, 01 dây thắt lưng, 01 mũ bảo hiểm và 05 khẩu trang y tế, là tài sản của bị can dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bản án số: 69/2021/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Phan Tiến T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Căn c điểm b, d khoản 2 Điều 171, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị Phan Tiến T 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 23/4/2021.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý trách nhiệm dân sự, xử lý vật ch ng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 08/10/2021 , Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông Quyết định kháng nghị số: 01/KN-VKS kháng nghị Bản án sơ thẩm về phần hình phạt , việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ và biện pháp tư pháp, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm vụ án, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Tăng hình phạt đối với bị cáo Phan Tiến T; áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51, không áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo và không truy thu số tiền 8.500.000 đồng của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Tấn T thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp xử phạt bị cáo về các tội “Cướp giật tài sản" là đúng, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông giữ nguyên quyết đinh kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp. sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: căn c điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng hình phạt đối vưới Phan Tiến T; áp dụng điểm b, đ khoản 1 Điều 171; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’lấp đối với bản án hình sự sơ thẩm, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hình th c: Quyết định kháng nghị số: 01/KN-VKS ngày 08-10-2021 của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’lấp, tỉnh Đăk Nông, kháng nghị trong thời hạn luật định.
Về nội dung: Bị cáo Phan Tiến T khai nhận từ ngày 28/02/2021 đến ngày 19/4/2021 đã thực hiện 05 lần cướp giật tài sản của 05 người bị hại, chiếm đoạt 01 túi xách, 01 hộp phấn nước, số tiền 500.000 đồng và 05 điện thoại di động.
Sau khi cướp giật được tài sản Phan Tiến T đã bán 04 điện thoại di động cho một người đàn ông đi thu mua hàng điện tử, cầm cố 01 điện thoại, số tiền thu được 8.500.000 đồng bị cáo tiêu dùng vào mục đích cá nhân. Kết quả định giá tài sản trong tố tụng hình sự, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 35.850.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2021/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp tuyên bố bị cáo Phan Tấn T phạm tội “Cướp giật tài sản theo điểm b, d khoản 2 Điều 171; điểm r,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS 2015 xử phạt bị cáo Phan Tấn T 04 năm tù là đúng người, đúng tội, không oan.
Về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, quyết định về hình phạt đối với bị cáo Phan Tiến T: Trong khoảng thời gian gần 02 tháng, bị cáo 05 lần thực hiện hành vi phạm tội, Bản án nhận định và quyết định “Có tính chất chuyên nghiệp” theo điểm b khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là đúng nhưng vẫn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhiều lần” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là bất lợi cho bị cáo, trái với khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự quy định “Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.
Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động bà Trịnh Thị H là mẹ đẻ đã bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mỗi người 1.800.000 đồng lẽ ra phải áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo nhưng lại áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là không phù hợp.
Về hình phạt: Bị cáo Phan Tiến T thực hiện hành vi phạm tội với hai tình tiết định khung “Có tính chất chuyên nghiệp” và “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự, giá trị tài sản bị cáo cướp giật chiếm đoạt là 35.850.000 đồng. M c hình phạt 04 năm tù đối với bị cáo Phan Tiến T là nhẹ chưa đánh giá hết tính chất, m c độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, tăng hình phạt tù đối với bị cáo Phan Tiến T.
Về các biện pháp tư pháp: Đề nghị không truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 8.500.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Số tiền bị cáo phạm tội chiếm đoạt của các bị hại là 35.850.000 đồng (trong đó có 8.500.000 đồng có được do bán tài sản đã chiếm đoạt của người khác), bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 7.200.000 đồng, bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại số tiền 21.900.000 là phù hợp. Bản án sơ thẩm vừa buộc bị cáo bồi thường tài sản chiếm đoạt cho bị hại, vừa buộc bị cáo nộp truy thu số tiền 8.500.000 đồng là không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 và khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn c chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’lấp tỉnh Đăk Nông, Sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp về phần áp dụng điểm khoản của điều luật, hình phạt và các biện pháp tư pháp.
Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c điểm b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đăk Nông. Sửa Bản án sơ thẩm số: 69/2021/HS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đăk R’Lấp.
1. Tuyên bố bị cáo Phan Tiến T phạm tội “Cướp giật tài sản .
Đáp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 171, điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị Phan Tiến T 05 (năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn c khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận quyết định xử lý vật ch ng số 31 ngày 12/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đắk R’Lấp trả 01 hộp đựng điện thoại, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO V2025 price, 01 ốp lưng điện thoại cho chị Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.
Chấp nhận quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 27 ngày 12/7/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đắk R’Lấp trả số tiền 850.000 đồng cho bà Trịnh Thị Huế là chủ sở hữu hợp pháp.
Trả lại cho anh Phan Tiến N 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu TDDREAM, màu xanh, số máy: 52FMH002952, số khung: UM7XL02952, biển số kiểm soát 81K6 – 8301.
Trả lại cho bị cáo Phan Tiến T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Grand Prime là chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác, 01 quần Jean, 01 dây thắt lưng, 01 mũ bảo hiểm và 05 khẩu trang y tế.
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 hợp đồng cầm đồ ngày 04/3/2021 và 01 tờ giấy có kích thước (22 x 9,5) cm.
(Các vật chứng có đặc điểm được mô tả như trong biên bản thu giữ vật chứng)
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông; - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông; - TAND huyện Đăk R’Lấp; - VKSND huyện Đăk R’Lấp; - CQCSĐT Công an huyện Đăk R’Lấp; - CQTHAHS Công an huyện Đăk R’Lấp; - Bị cáo; - Lưu: Tổ HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tài Sử |