- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Quang L (Giấy chứng nhận kết hôn số 20, quyển số 01/2004 do Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh N cấp ngày 15/12/2004).
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 89/2021/HNGĐ-ST Ngày: 22-11-2021 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa:Ông Lê Duy Long - Thƣ ký Tòa án nhân dân th ành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 150/2021/TLST-HNGĐ ngày 06/4/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 97/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/9/2021, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ 65 khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trƣơng Quang L, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ 77B khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 19/3/2021 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trƣơng Quang L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20, quyển số 01/2004 ngày 15/12/2004.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H về sống tại xóm Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh N đƣợc một thời gian, đến năm 2012, vợ chồng chuyển đến sống tại khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B (thuê nhà trọ sinh sống). Trong thời gian chung sống vợ chồng thƣờng xảy ra mâu thuẫn, cãi vả, thậm chí anh L cũng nhiều lần đánh đập chị H. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, từ năm 2019 đến nay vợ chồng đã không còn sống chung. Nay chị H không còn tình cảm và không thể tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân với anh L. Vì vậy, chị H yêu cầu đƣợc ly hôn với anh L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị H và anh L có 02 đứa con chung là Trƣơng Quang Tuấn A, sinh ngày 15/9/2005 và Trƣơng Quang T, sinh ngày 22/9/2008. Hiện nay các con đang ở cùng với chị H.
Chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu anh Trƣơng Quang L cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nghĩa vụ chung: Vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Trương Quang L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án , thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp , tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải bằng hinh thƣ̀
́ c niêm yết công khai và yêu cầu anh Trƣơng Quang L có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với các yêu cầu của chị Nguyễn Thị H nhƣng anh L không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Tòa án triệu tập anh L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia hòa giải vào ngày 01/6/2021 và ngày 23/6/2021, nhƣng cả hai lần anh L vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ gì để thể hiện anh L đồng ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị H.
- Người làm chứng anh Nguyễn Văn Q trình bày: Anh Q là anh trai của chị H. Theo anh Q đƣợc biết, sau khi rời quê vào Dĩ An sinh sống thì vợ chồng chị H và anh L có thuê nhà sống cạnh nhà anh Q một thời gian thì chuyển qua T thuê nhà ở. Chị H thì bán quán, anh L thì chạy xe. Tuy nhiên, do anh L không chí thú làm ăn nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hay cãi nhau, gia đình hai bên cũng hòa giải nhiều lần nhƣng vẫn không cải thiện. Do vợ chồng mâu thuẫn không thể sống chung nên chị H dẫn 02 con về nhà anh Q ở từ năm 2019, từ đó cho đến nay hai vợ chồng không ở cùng nhau nữa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, việc tiến hành tố tụng đã đảm bảo tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L đã có những mâu thuẫn trầm trọng. Điều này đã đƣợc các con của anh chị thừa nhận, đồng thời ngƣời làm chứng anh Nguyễn Văn Q là anh ruột của chị H cũng xác nhận vợ chồng anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Tòa án đã triệu tập anh L đến Tòa nhiều lần nhƣng anh L không đến, chứng tỏ anh L cũng không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa anh và chị H. Do vậy, việc chị Hợi yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Về con chung: Các con đang sống cùng chị H và đều có nguyện vọng đƣợc ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung do các đƣơng sự không tranh chấp nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trƣơng Quang L đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhƣng vắng mặt 02 lần liên tiếp không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trƣơng Quang L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20, quyển số 01/2004 do Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh N cấp ngày 15/12/2004 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị H, lời khai của ngƣời làm chứng anh Nguyễn Văn Q và các con chung của chị H với anh L thì thực tế cuộc sống vợ chồng của chị H và anh L có nhiều mâu thuẫn trầm trọng từ nhiều năm nay. Thực tế vợ chồng anh chị đã không còn sống chung với nhau từ năm 2019, hai con theo chị H về ở cùng nhà anh Nguyễn Văn Q (là anh ruột chị H) còn anh L sống một mình ở nhà trọ từ đó cho đến nay. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập anh L đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh L không đến tham gia hòa giải, điều này càng chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và chính anh L cũng không quan tâm và không muốn hàn gắn. Vì vậy, chị H yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Về con chung: Giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trƣơng Quang L có 02 con chung là Trƣơng Quang Tuấn A, sinh ngày 15/9/2005 và Trƣơng Quang T, sinh ngày 22/9/2008. Khi ly hôn chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con chung. Nguyện vọng của 02 cháu cũng muốn đƣợc ở với mẹ. Vậy nên giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng sau ly hôn sẽ bảo đảm quyền lợi của phụ nữ, trẻ em khi vợ chồng ly hôn, phù hợp với nguyện vọng của các cháu và quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu anh Trƣơng Quang L phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Xét đây là sự tự nguyện của chị H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu Tòa án giải quyết.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Nguyễn Thị H đối với anh Trƣơng Quang L.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ các Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H đƣợc ly hôn với anh Trƣơng Quang L (Giấy chứng nhận kết hôn số 20, quyển số 01/2004 do Uỷ ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh N cấp ngày 15/12/2004).
2. Về con chung: Buộc anh Trƣơng Quang L giao 02 con chung là Trƣơng Quang Tuấn A, sinh ngày 15/9/2005 và Trƣơng Quang T, sinh ngày 22/9/2008 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng.
Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị phải tạo điều kiện cho anh Trƣơng Quang L thăm nom con, không ai có quyền cản trở anh Trƣơng Quang L thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dƣỡng.
3. Về nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị H về việc không yêu cầu anh Trƣơng Quang L phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghin đồ
̀ng ) án phí ly hôn , đƣợc khấu trƣ̀ vào tiền ta ̣m ƣ́ ng án phi đá nô ̣̃ p theo
biên lai số 0049463 ngày 05/4/2021 của Chi cục Thi hàn h án dân sƣ̣ thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
6. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Trƣơng Quang L vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - CCTHADS thành phố Dĩ An (01); - Đƣơng sự (02); - Lƣu: VP, HS (03). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Thanh |