vanban.org

Bản án 89/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hoàng A đối với bị đơn – Nguyễn Văn Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hoàng A đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN THI HOANG A - NGUYEN VAN Đ"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 89/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 30-12-2021
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Kim Phƣợng

2. Ông Đặng Minh Lý

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Thơ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Không tham gia

Ngày 30 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án thụ lý số: 305/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 86/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1988; trú tại: Số 26/43, khu phố 7, đƣờng ĐX95, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986; trú tại: Số 26/43, khu phố 7, đƣờng ĐX95, phƣờng H, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 11 năm 2021, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hoàng A trình bày:

Bà A và ông Nguyễn Văn Đ chung sống với nhau năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83, ngày 10/5/2018.

Quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thiên B, sinh ngày 10/11/2018.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Tuy nhiên khi bà A sinh con phải nằm viện để phẫu thuật nhƣng ông Đ không quan tâm chăm sóc. Ông Đ thƣờng dành phần lớn thời gian để chơi game. Khi xảy ra dịch bệnh, vợ chồng không có việc làm ông Đ vẫn không quan tâm gia đình, vợ con mà vẫn mãi chơi game. Sự việc kéo dài đã trên 3 năm nên tình cảm vợ chồng không còn. Bà A đã cùng con đi nơi khác sống riêng khoảng 3 tháng nay.

Bà A làm công nhân Công ty nên thu nhập ổn định khoảng 10 triệu đồng/tháng

Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Đ

Về con chung: Yêu cầu đƣợc nuôi con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Biên bản lấy lời khai ngày 26 tháng 11 năm 2021, bị đơn – ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Thống nhất theo lời khai bà A về quan hệ hôn nhân và con chung

Ông Đ không đồng ý ly hôn vì còn thƣơng vợ con. Vợ chồng có mâu thuẫn với nhau là vì ông Đ ít quan tâm đến gia đình, tuy nhiên mâu thuẫn không đến mức trầm trọng. Ông Đ nhận lỗi và hứa khắc phục. Ông Đ làm nghề tự do nên thu nhập không ổn định khoảng 10 triệu đồng/tháng

Trƣờng hợp Tòa án giải quyết cho ông Đ và bà A ly hôn thì ông Đ yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa: Nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên ý kiến

Vị đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thƣ ký Tòa án: Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về xét xử sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm, các đƣơng sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử nhƣ sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn.

Về con chung: Giao con chung cho bà A nuôi dƣỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà An về việc không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đƣơng sự không yêu cầu nên không giải quyết

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hoàng A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ và yêu cầu đƣợc nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn – ông Nguyễn Văn Đ có nơi cƣ trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng vì vậy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Hoàng A và ông Nguyễn Văn Đ chung sống với nhau từ năm 2018, trên cơ sở có tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh và đƣợc cấp giấy chứng nhận kết hôn số 83, ngày 10/5/2018. Do đó, theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông Đ là hôn nhân hợp pháp.

Bà An xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Đ. Ông Đ cho rằng còn thƣơng vợ con, nhận lỗi vì ít quan tâm gia đình nên vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn tuy nhiên không trầm trọng do vậy không đồng ý ly hôn.

Quá trình tố tụng, bà A và ông Đ đều khai thống nhất là ông Đ và bà A đã sống riêng nhau khoảng 3 tháng nay, mạnh ai nấy sống, không ai, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy: Quan hệ hôn nhân tồn tại bền vững dựa trên tình cảm của vợ chồng, sống có trách nhiệm, thƣơng yêu, chăm sóc, quan tâm lẫn nhau. Vợ chồng bà A và ông Đ vì không còn tình cảm với nhau nên không ai quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống nên chứng tỏ tình trạng hôn nhân của bà A và ông Đ không đạt đƣợc các yếu tố của một gia đình hạnh phúc. Ông Đ không đồng ý ly hôn nhƣng vẫn không có biện pháp gì cải thiện, hàn gắn nên tình trạng hôn nhân của bà A và ông Đ đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà A về việc ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Bà A và ông Đ đều yêu cầu sau khi ly hôn đƣợc nuôi con chung là cháu Nguyễn Thiên B, sinh ngày 10/11/2018. Cả hai đều có việc làm ổn định, có thu nhập 10.000.000 đống/tháng nên không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống riêng nhau cháu B sống cùng bà A. Bà A có nghề nghiệp ổn định, có thu nhập, có điều kiện chăm sóc con tốt nên cháu B luôn khỏe mạnh và phát triển bình thƣờng. Do vậy Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu B cho bà A chăm sóc, nuôi dƣỡng là bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dƣỡng: Bà A không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con nên ông Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5[ Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 244, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015

- Khoản 1 Điều 14; các Điều 15, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Hoàng A đối với bị đơn – Nguyễn Văn Đ về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hoàng A đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ

- Về con chung: Giao cháu cháu Nguyễn Thiên B, sinh ngày 10/11/2018 cho bà Nguyễn Thị Hoàng A trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi

- Về cấp dƣỡng: Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con

Sau khi ly hôn, ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở. Ngƣời không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hƣởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con thì ngƣời trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ngƣời đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.

2. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000593 ngày 11/11/2021 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yều cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ