- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng hợp tác — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng hợp tác bán hàng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 Nghị định số 42/2014/NĐ-CP Về quản lý hoạt động bán hàng đa…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 89/2021/DSST Ngày 23 tháng 8 năm 2021 V/v: “Tranh chấp hợp đồng hợp tác bán hàng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Thắng
Các hổi thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tư.
2. Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23/8/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh B mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2021/TLST-DS ngày 11/5/2021 về “Tranh chấp về hợp đồng hợp tác bán hàng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2021/QĐXXST-DS ngày 19/7/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2021/QĐST-DS ngày 05/8/2021 giữa:
*Nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1961
Địa chỉ: Số 23, ngõ 4, Nguyễn Xuân Ôn, khối VQ, thành phố Vinh, tỉnh NA.
Đại diện theo ủy Q: Ông Hoàng Quang Q, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số nhà 31, ngõ 267, Phùng Khoang, tổ 5, phường Trung Văn, quận NTL, thành phố HN.
(Vắng mặt; Có đơn xin vắng mặt)
*Bị đơn: Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam
Địa chỉ: N24, khu dân cư sỹ quan, quân đoàn 2, đường Hoàng Văn Thụ, phường DK, thành phố B, tỉnh B.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Chung – Chức vụ: Tổng giám đốc.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị N và người đại diện theo uỷ Q cho nguyên đơn trình bày:
Qua người khác giới thiệu, bà Phan Thị N được giới thiệu vào Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam (Gọi tắt là Công ty). Công ty cung cấp cho bà N những tài liệu liên quan đến Công ty gồm: Giấy phép đã được Bộ y tế - Cục an toàn vệ sinh thực phẩm chứng nhận, đảm bảo cho người đầu tư được sử dụng sản phẩm chất lượng cao, được hưởng chương trình tri ân có khuyến mãi cao lại không rủi ro, đại diện Công ty khuyên bà N nên tham gia đầu tư vào Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam do ông Chung làm Giám đốc. Do bà N tin tưởng và muốn được hưởng các chương trình tri ân hấp dẫn nên bà N đã ký kết hợp đồng hợp tác bán hàng số 030587/HĐ-LMTD ngày 07/5/2014 (Hợp đồng) với Công ty cổ phần LMTD Việt Nam. Sau khi ký Hợp đồng, bà N đã nộp tiền đã nộp tiền vào Công ty tại thị trường tỉnh NA để sản phẩm của Công ty, chủ yếu là Cao hồng sâm, mỗi sản phẩm cao hồng sâm có giá là 9.888.000 đồng và 11.880.000 đồng tùy theo từng chương trình tri ân, khuyến mại của Công ty, Tổng số tiền bà N đã mua của Công ty là 3.203.016.000 đồng. Sau khi mua hàng và nộp tiền, Công ty đưa cho bà 306 Phiếu đặt hàng, bà đã lấy 99 gói sản phẩm Cao hồng sâm và được Công ty thu lại 99 Phiếu đặt hàng. Sau này bà N tiếp tục đến lấy sản phẩm Cao hồng sâm nhưng Công ty không có sản phẩm, bà yêu cầu nhiều lần nhưng Công ty không có hàng và không trả lại tiền cho bà, hiện nay bà vẫn còn giữ 207 Phiếu đặt hàng trong đó có 118 Phiếu đặt hàng với giá sản phẩm là 9.888.000 đồng và 89 Phiếu đặt hàng với giá sản phẩm là 11.880.000 đồng.
Số hàng trên bà N mua về để sử dụng và bán để hưởng tiền tri ân. Đối với tiền ông mua hàng là của riêng bà không liên quan đến các thành viên trong gia đình bà. Bà không biết kế toán thủ quỹ của Công ty ở đâu nên bà không yêu cầu triệu tập đến Tòa án làm việc vì trước đây bà chỉ làm việc với ông Nguyễn Văn Chung là tổng giám đốc.
Năm 2017 bà N mới biết Công ty cổ phần LMTD đã bị rút giấy phép kinh doanh do vi phạm Nghị định 42 của Bộ công thương, bà N đã gặp ông Chung nhiều lần để đòi tiền nhưng ông Chung khất lần đến nay bà N vẫn chưa đòi được số tiên trên.
Nay bà N khởi kiện công ty và ông Q với tư cách đại diện theo uỷ Q của bà N yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam phải trả cho bà N tổng số tiền 2.224.104.000 đồng tương đương 207 mã hàng (Trong đó có 118 mã hàng với giá sản phẩm là 9.888.000 đồng và 89 mã hàng với giá sản phẩm là 11.880.000 đồng) bà N đã đặt và trả tiền mà chưa được lấy hàng.
* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đại diện của Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam không đến Tòa án làm việc và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì.
+ Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thu thập tài liệu chứng cứ từ các vụ án khác do Cục Quản lý cạnh tranh nay là Cục cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng - Bộ Công thương cung cấp cho Tòa án tài liệu liên quan đến Công ty cổ phần LMTD Việt Nam, bao gồm:
- Bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp của Công ty.
- Bản sao hồ sơ sửa đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp của Công ty.
- Bản sao Quyết định số 252/QĐ-QLCT ngày 03/10/2016 của Cục Quản lý cạnh tranh về việc xử lý vụ việc cạnh tranh đối với Công ty. Trong Quyết định có nội dung: Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam không làm thủ tục sửa đổi, bổ sung Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp khi có thay đổi, bổ sung liên quan đến Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 10, Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp; Công ty đã thực hiện hành vi ký Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp không bao gồm đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định 42/2014/NĐ-CP; Công ty đã thực hiện hành vi ký Hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với cá nhân không đủ điều kiện tham gia bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 19- Nghị định 42/2014/NĐ-CP; Công ty đã thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đào tạo cơ bản đối với người tham gia bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 20- Nghị định 42/2014/NĐ-CP; Công ty đã thực hiện hành vi duy trì nhiều hơn một vị trí kinh doanh đa cấp, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp, mã số kinh doanh đa cấp hoặc các hình thức khác tương đương đối với một người tham gia bán hàng đa cấp, vi phạm quy định tại điểm p khoản 1 Điều 5 Nghị định 42/2014/NĐ-CP. Công ty đã vi phạm các quy định của Nghị định 42 về bán hàng đa cấp và quá trình hoạt động bán hàng đa cấp, Công ty đã có nhiều sai phạm nên Cục quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương đã ra Quyết định xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh đối với Công ty. Ngoài hình thức phạt tiền, Cục quản lý cạnh tranh còn áp dụng hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục là “Áp dụng hình thức xử phạt bổ sung Thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 36 Nghị định 71/2014/NĐ-CP”, Công ty cổ phần LMTD Việt Nam không còn tư cách về mặt chủ thể để tham gia bán hàng đa cấp.
Ngày 19/5/2021,Tòa án mở phiên tòa nhưng do đại diện theo pháp luật của bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện theo pháp luật của bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện theo ủy Q của nguyên đơn vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án. Nguyên đơn; người đại diện của nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đại diện theo pháp luật của bị đơn chưa chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án:
1. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị N.
2. Buộc Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam phải trả cho bà Phan Thị N tổng số tiền 2.224.104.000 đồng tương đương 207 mã hàng (Trong đó có 118 mã hàng với giá sản phẩm là 9.888.000 đồng và 89 mã hàng với giá sản phẩm là 11.880.000 đồng) bà N đã đặt và trả tiền mà chưa được lấy hàng.
3. Về lãi suất chậm thi hành án: Đề nghị tuyên án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Công ty cổ phần LMTD Việt Nam phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Hoàn trả bà N số tiền 38.241.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Đại diện theo pháp luật của bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm Q giải quyết vụ án: Giữa Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam và bà Phan Thị N đã ký Hợp đồng hợp tác bán hàng. Căn cứ hợp đồng đã ký, bà N có nộp tiền mua hàng của Công ty nhưng đến nay chưa được nhận số hàng đã mua. Bà N đã đòi nhiều lần nhưng Công ty chưa trả. Các bên không tự giải quyết được tranh chấp nên bà N khởi kiện ra Tòa án. Quan hệ tranh chấp giữa bà N với Công ty là quan hệ dân sự giữa cá nhân không có giấy phép đăng ký kinh doanh với pháp nhân có giấy phép đăng ký kinh doanh về bán hàng đa cấp. Đây là “Tranh chấp về hợp đồng dân sự (cụ thể là tranh chấp hợp đồng hợp tác bán hàng)”. Công ty có địa chỉ trụ sở tại thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện đối với Công ty cổ phần LMTD Việt Nam.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do bà N cung cấp có căn cứ xác định: bà N có ký Hợp đồng hợp tác bán hàng số 030587/HĐ-LMTD ngày 07/5/2014 với Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam, trong thời gian Công ty được phép hoạt động bán hàng đa cấp. Trong thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 10/2015 bà N đã đặt mua sản phẩm của Công ty và được Công ty viết Phiếu đặt hàng, khi lấy hàng Công ty sẽ thu lại Phiếu đặt hàng. Tuy nhiên, đến nay bà N còn 207 Phiếu đặt hàng chưa được Công ty trả hàng tương đương với số tiền 2.224.104.000 đồng, trong đó có 118 mã hàng với giá sản phẩm là 9.888.000 đồng và 89 mã hàng với giá sản phẩm là 11.880.000 đồng.
. Ngày 03/10/2016, Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương có Quyết định về việc xử lý vụ việc cạnh tranh số 252/QĐ-QLCT đối với Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam. Tại Quyết định trên thì Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam đã bị áp dụng hình phạt bổ sung và biện pháp khắc phục là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 36 Nghị định 71/2014/NĐ-CP.
. Bà Phan Thị N yêu cầu Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam phải trả số tiền 2.224.104.000 đồng tương đương giá trị 207 sản phẩm đã nộp tiền mua của Công ty nhưng chưa được Công ty trả hàng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 16; Điều 26 Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp và điểm c khoản 2 Điều 9 Thông tư số 24/2014/TT-BCT ngày 30/07/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp; phía Công ty không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu trên của bà N.
Về lãi suất chậm thi hành án: Do các đương sự không thỏa thuận được nên áp dụng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí: Yêu cầu của bà Phan Thị N được chấp nhận nên Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hoàn trả bà Phan Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 274, Điều 275, Điều 280, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 16; Điều 26 của Nghị định 42/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị N.
- Buộc Công ty Cổ phần LMTD Việt Nam phải trả cho bà Phan Thị N tổng số tiền 2.224.104.000 đồng.
2. Về án phí:
- Công ty cổ phần LMTD Việt Nam phải chịu 76.482.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại bà Phan Thị N số tiền tạm ứng án phí 38.241.000 đồng đã nộp theo biên lai số AA/2018/0002072 ngày 11/5/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B.
3. Về lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có Q chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về Q kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh B; - VKS TP B, - CCTHA dân sự TP B, - Các đương sự, - Lưu HS, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Mạnh Thắng |