- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2020/HSST Ngày 23 - 6 - 2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị An
2. Bà Ngô Thị Yêm
- Thƣ ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Nguyễn Ngọc Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 23/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 85/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020 đối với:
1. Bị cáo Nguyễn Đức T, sinh năm 1980 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn ĐV, xã LH, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe ô tô tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Đức N và bà Đỗ Thị N1, vợ là: Vũ Thị M Nhâm, có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: theo trích lục tiền án, tiền sự số 2550397/PV06 ngày 29/4/2020 của Công an thành phố Hà Nội và lý lịch bị can thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị hại: Anh Nguyễn Văn N3, sinh năm 1982.
Trú quán: thôn ĐV, xã LH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên
tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/3/2020, anh Nguyễn Văn N3 đến Công An huyện ĐA trình báo về việc: Khoảng 21h30 ngày 23/3/2020 anh N3 để xe ô tô BKS: 29C – 370.64 tại khu đất trống giáp nhà thì Nguyễn Đức T dùng gạch ném làm hư hỏng 01 kính chắn gió, 01 gương chiếu hậu và 01 vết lõm trên nóc xe kích thước 20x20cm. Trị giá tài sản bị hư hỏng khoảng 3.450.000 đồng. Anh N3 đề nghị Cơ quan Công An làm rõ hành vi của Nguyễn Đức T và xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 143/HĐĐGTS ngày 03/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện ĐA và Biên bản họp Hội đồng định giá tài sản ngày 29/4/2020 kết luận: 01 kính chắn gió phía trước xe trị giá 725.000 đồng; 01 gương chiếu hậu trị giá: 450.000 đồng; Công gò nóc xe: 300.000 đồng; Sơn nóc xe: 950.000 đồng; Công thay: 300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 2.725.000 đồng.
Thu giữ tại hiện trường: 01 viên gạch đất nung tại vị trí nóc cabin xe ôtô BKS: 29C-370.64.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức T khai:
Anh Nguyễn Văn N3 và bị cáo Nguyễn Đức T là anh em họ, sống cạnh nhà nhau địa chỉ thôn ĐV, LH, ĐA, Hà Nội. Quá trình sinh sống anh N3 thường xuyên đỗ xe ôtô tải do anh N3 đứng tên chủ sở hữu tại sân tập thể, trước lối đi vào nhà của bị cáo T nên phát sinh mâu thuẫn.
Khoảng 17h00’ ngày 23/3/2020, anh N3 đỗ xe ôtô gắn biển kiểm soát 29C-370.64 trên sân tập thể, cách cổng nhà khoảng 2m, đóng cửa xe rồi vào nhà ngủ. Khoảng 19h00’ cùng ngày, anh Đoàn TA đến nhà bị cáo T chơi. Sau khi từ nhà bị cáo T về, anh TA thấy xe ôtô của anh N3, cửa mở hé, chìa khóa cắm ở ổ khóa điện nên liên hệ điện thoại cho chị Lê Thị Lâm nói "chị ơi sao chị không đóng cửa xe ôtô, cho em mượn xe đi chơi nhé". Chị Lâm nói "xe khóa rồi, xe tải đi chơi gì". Lúc này trời đang mưa, anh TA vào cabin khởi động điều khiển xe ô tô của anh N3 đỗ vào lán của gia đình bị cáo T rồi đi về.
Đến khoảng 21h00’ cùng ngày, bị cáo T đi ra cổng phát hiện xe ôtô tải của anh N3 đang đỗ trong lán của mình nên bức xúc đồng thời gọi anh N3 xuống nói chuyện. Thấy anh N3 không xuống nên bị cáo T nhặt viên gạch nung dưới đất ném vào cánh cửa tôn xưởng sơn đồ gỗ của bị cáo T đang cho ông Lê Văn Chuyên thuê, gây tiếng "bụp bụp". Nghe tiếng động, chị Lâm chạy ra vị trí đỗ xe ôtô xem còn anh N3 lao đến dùng tay phải đấm vào vùng mắt trái của bị cáo T. Bị cáo T dùng tay đấm lại anh N3. Anh N3 tránh và bỏ chạy ra sân tập thể của thôn. Bị cáo T và anh N3 nhặt gạch ven đường ném nhau nhưng không trúng ai.
Bị cáo T tay phải nhặt 01 viên gạch đất nung dưới sân đập một cái trúng gương chiếu hậu làm gương bị vỡ hoàn toàn rồi tiếp tục cầm gạch ném nhiều lần làm vỡ kính chắn gió phía trước xe ô tô. Bị cáo T nhặt viên gạch đất nung vừa ném vỡ kính chắn gió nhiều lần ném lên nóc cabin xe ô tô làm xước và bẹp, lõm nóc cabin bên ghế phụ xe ô tô. Thấy bị cáo T đập phá xe ô tô của mình, anh N3 chạy lên xe ô tô khởi động lùi xe ô tô về vị trí cũ rồi xuống dùng chân tay đánh nhau với bị cáo T.
Thấy anh N3 và bị cáo T đánh nhau, ông Nguyễn Đức N ra can ngăn, kéo bị cáo T vào nhà.
Đối với việc bị cáo T dùng gạch ném vào cửa tôn, không làm hư hỏng, không gây ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh sản xuất của ông Chuyên. Ông Chuyên không có đề nghị được bồi thường dân sự. Cửa tôn là tài sản của bị cáo T nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với việc anh Nguyễn Văn N3 và anh Nguyễn Đức T có hành vi dùng chân tay đánh nhau, gây thương tích nhẹ, không đến các cơ sở y tế khám thương. Anh N3 và anh T đều từ chối khám cấp chứng thương, từ chối giám định tỷ lệ tổn hại % sức khỏe, không đề nghị bồi thường dân sự. Hành vi dùng chân tay đánh nhau của bị cáo Nguyễn Đức T và anh Nguyễn Văn N3, chưa gây hậu quả nghiêm T nên không cấu thành tội phạm: Cố ý gây thương tích nhưng đã phạm vào điểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ (đánh nhau), cần xử phạt vi phạm hành chính. Công an huyện ĐA ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo T và anh Nguyễn Văn N3.
Về phần dân sự: Bị cáo Nguyễn Đức T đã nộp số tiền 2.725.000 đồng để khắc phục hậu quả. Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh N3, sau khi N tiền anh N3 không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự và đề nghị xử lý bị cáo T theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 88/CT-VKSĐA ngày 29/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã Quyêt định truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Cố ý làm hưu hỏng tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại Phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Đức T khai N hành vi phạm tội như nội dung đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ Luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức T từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án. Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án.
N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử N định:
[1] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai N của bị cáo Nguyễn Đức T tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 23/3/2020, tại thôn ĐV, xã LH, huyện ĐA, Thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Đức T có hành vi dùng gạch ném làm hư hỏng 01 kính chắn gió, 01 gương chiếu hậu, xước, bẹp, nõm nóc xe ô tô BKS 29C-370.64 của anh Nguyễn Văn N3 trị giá 2.725.000 đồng; bị cáo thừa N thiệt hại với định giá của Hội đồng định giá tài sản và đã bồi thường thiệt hại, người bị hại đã N đủ số tiền trên.
Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Đức T đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, được quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự 2015. Điều luật quy định:
“1.Người nào cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng…thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì tội phạm không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo N thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong khi có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm T, bồi thường thiệt do mình gây ra do vậy cần áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi một phần.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy không cần áp dụng hình phạt tù, nhưng cho cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời hạn thử thách giao về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Văn N3 đã N được tiền khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và anh không có yêu cầu gì khác về dân sự, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
[4] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 viên gạch kích thước 10x21x6 cm cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với N định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 178, Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.
Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân xã LH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu gười được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã hưởng án treo
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
+ Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã N được tiền bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch kích thước 10x21x6 cm.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, N vật chứng ngày 29/5/2020 giữa Công an huyện ĐA, Thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội).
Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/6/2020./.
| Nơi N: - Bị cáo;người bị hại; - VKSND huyện ĐA; - Công an huyện ĐA; - Chi cục THADS huyện ĐA; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - UBND xã LH, H.ĐA; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Trung Trực |