- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyen hoang khanh - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng K (Kkê) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2020/HS-ST Ngày 14 tháng 5 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Z, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hạng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Có
Bà Nguyễn Thị Tỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Z
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Châu - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Z mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 116/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2020/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng K (K kê) - Sinh năm 1976, tại Hà Nội; Nơi ĐKNKTT: 60B Thái Nguyên, phường PS, thành phố Z; Chỗ ở hiện nay: Tổ 15 Ngọc Sơn, phường NH, thành phố Z; nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn K và bà Lê Thị Hải Y. Tiền sự: không; Tiền án: Bản án số 966/HSPT ngày 22 tháng 12 năm 1999 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt tù chung thân về tội “Cướp tài sản công dân”; 14 năm tù về tội: “Cướp tài sản xã hội chủ nghĩa”; 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung: tù chung thân. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/3/2015; (chưa chấp hành hình phạt bổ sung). Nhân thân:
- Bản án số 108//HSPT ngày 25 tháng 3 năm 1995 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản của công dân”. (Đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí).
- Bản án số 290/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Quyết định đình chỉ phúc thẩm 06/2020/HSPT-QĐ ngày 17/01/2020.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 179/QĐ-XPHC ngày 30/8/2019 của Công an thành phố Z về hành vi sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ trái quy định và sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 3 năm 2019. Có mặt.
2. Nguyễn Văn P - Sinh năm 1996, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn Phú Gia, xã Ninh An, thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (Đã chết) và bà Đinh Thị Kim H; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân:
- Quyết định số 60/QĐ – XPHC ngày 18 tháng 9 năm 2013 của Công an xã Ninh An phạt tiền 500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã đóng tiền phạt;
- Quyết định số 14/QĐ - XPVPHC ngày 05 tháng 05 năm 2014 của Công an xã NA, thị xã NH phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã đóng tiền phạt.
- Quyết định số 171/QĐ-XPHC ngày 30/8/2019 của Công an thành phố Z về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/3/2019 cho đến nay. Có mặt
3. Phan Tấn S- Sinh năm 1996, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: tổ 15 Ngọc Hội 2, xã V N, thành phố Z; Nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T và bà Nguyễn Thị P; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: Bản án số 290/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 tháng 3 năm 2019. Có mặt.
4. Lê Văn V - Sinh năm 1999, tại Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn Thượng, xã Diên Lâm, huyện D K, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: không. Trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B và bà Nguyễn Thị Mỹ N; Tiền án, Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 tháng 3 năm 2019. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Phú N, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Tổ 01 Vĩnh Điềm, N H, Z, Khánh Hòa.
2. Ông Tạ Minh P, sinh năm 1989; Nơi cư trú: 52/2A Lý Thánh Tôn, LT, Z, Khánh Hòa.
3. Ông Nguyễn Phước T, sinh năm 1996; Địa chỉ liên hệ: Công an phường Lộc Thọ, Z Khánh Hòa.
4. Ông Trần Hoàng L, sinh năm 1989; Nơi cư trú: 5/8C Lý Tự Trọng, Lộc Thọ, Z, Khánh Hòa.
5. ÔngNguyễn Minh T, Địa chỉ: Tổ 4 Thái Thông, VT, Z, Khánh Hòa.
(Tất cả người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 26 tháng 3 năm 2019, Công an phường Lộc Thọ, thành phố Z nhận được tin báo của anh Huỳnh Tấn H trình báo mất trộm 01 chiếc xe Air Blade biển kiểm soát 79N1-553.54, anh H có định vị thì xác định vị trí của xe bị mất đang ở khu vực tổ 15 Ngọc Sơn, phường NH, thành phố Z. Công an phường Lộc Thọ phối hợp với công an phường Ngọc Hiệp lập 01 tổ công tác tiến hành rà soát tại khu vực tổ 15 Ngọc Sơn, phường NH, thành phố Z gồm các đồng chí: Tạ Minh P, Nguyễn Phước T, Nguyễn Phú N, Trần Hoàng L và một số người trong Đội hiệp sỹ thành phố Z đến khu vực trên. Khi đến nhà của Nguyễn Hoàng K thì tổ công tác phát hiện 01 chiếc xe Air Blade có gắn biển kiểm soát 21G - 056.05 dựng trước sân nhà. Nghi vấn đây là xe bị mất trộm nên tổ công tác tiến hành kiểm tra.
Lúc này, trong nhà Nguyễn Hoàng K đang ở, gồm có K, Lê Duy D, Nguyễn Mai Xuân T, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Ngọc Vũ Đ, Nguyễn Thị Diễm Q, Lê Thị Diệu T, Lê Văn Vvà Trần Thái Triều L; Phan Tấn S đang ở ngoài sân cùng Nguyễn Văn P nghe có công an đến nhà, Nguyễn Hoàng K từ trong nhà chạy ra, trên tay cầm theo 01 khẩu súng màu đen và nói với tổ công tác: “Đây là nhà mẹ Việt Nam anh hùng, muốn khám thì lệnh đâu?”. Thấy K cầm súng chỉ vào tổ công tác nên tổ công tác lui ra ngoài cổng.
Thấy tổ công tác đã rút ra khỏi nhà, K chạy vào trong nhà lấy 03 khẩu súng để vào trong ba lô đeo trên lưng và dắt 01 chiếc xe Winner biển kiểm soát 79N2-125.39 ra ngoài sân, trên tay cầm 01 khẩu súng. K hỏi P, S, V, L là có đường nào chạy thoát không, thì cả nhóm nói không còn đường nào hết. Nghe vậy, K bảo cả nhóm mở đường cho K chạy. K chạy xe ra phía cổng và nói “Chém chết mẹ tụi nó đi” và hô hào cho các đối tượng khác chống đối lực lượng công an. Ngay lập tức, P lấy gạch, đá dưới đất ngay cổng ném nhiều lần vào lực lượng công an; Sơn và Vđứng sau Pmỗi người cầm 01 viên đá ném vào lực lượng công an. K chĩa súng và bắn 02 phát vào lực lượng công an. Thấy các đối tượng ném đá, bắn súng vào phía tổ công tác nên tổ công tác phải lui ra. Lúc này, P mở cổng và K bỏ chạy thoát.
Sau khi K bỏ chạy, P xô ngã 02 chiếc xe của tổ công tác đang để ngay cổng và chạy vào nhà lấy một chai nhựa chứa khoảng 0,5 lít xăng chạy ra nhưng thấy lực lượng Công an nên lại cầm bình xăng đi vào nhà. P chạy vào nhà cầm 01 “rựa” và 01 bao nhựa đựng biển kiểm soát xe máy chạy ra hướng bờ sông và ném bao đựng biển kiểm soát xuống sông. Khi quay vào nhà P ném “rựa” ngay vườn, thấy mọi người trong nhà đang đi ra phía cổng nên Pđi theo và bị lực lượng công an bắt giữ.
Cùng lúc này, S, V chạy ra bờ sông theo hướng cầu sắt. Chạy được một đoạn thì Sơn gọi điện cho Vương Quốc Tđến chở về nhà nghỉ Hoa Biển trên đường Phạm Văn Đồng, phường VT, thành phố Z để trốn. Đến ngày 28 tháng 3 năm 2019, S và Vđến Công an thành phố Z để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Qua truy xét đối tượng K, đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, tổ công tác Phòng Cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa phát hiện K đang sử dụng xe máy Winner biển kiểm soát 79N2-135.29 đứng trước khu vực số 03 Trần Quốc Toản, phường Vạn Thắng, thành phố Z nên yêu cầu đối tượng dừng lại để kiểm tra. Tuy nhiên, K không chấp hành và bỏ chạy vào hẻm số 03 Trần Quốc Toản nhưng đã bị lực lượng Cảnh sát khống chế bắt giữ.
Cơ quan Công an thu giữ trên người K 01 ba lô màu xanh bên trong có: 01 khẩu súng rulo màu bạc, trong ổ quay còn 06 đầu kim loại màu vàng, thân súng có ký hiệu 18Q03190; 01 khẩu súng màu đen, bên trong có 08 mẫu kim loại hình trụ, thân súng có ký hiệu ZRCWL02180800098; 01 khẩu súng ngắn màu đen, thân súng ký hiệu FS2001 Made in Taiwan, trong súng có hộp tiếp đạn, lò xo tiếp đạn đầy hết; 01 dao bấm dạng dao gấp thân có dòng chữ Strider Knive; 01 túi màu đen hiệu ADIDAS trong túi có 12 mẫu kim loại màu vàng hình viên đạn; một đèn pin hình trụ dài 28cm; 01 đèn chiếu sáng ký hiệu NL6B35W; 02 điện thoại di động NOKIA, 01 điện thoại cảm ứng không rõ ký hiệu; 01 ví tiền bên trong có 3.900.000 đồng; 01 thẻ ngân hàng; 03 chứng minh nhân dân tên Trương Hoàng Lan A, Lê Thị Thủy T, Phan Hoàng Tuấn A; 01 hộp nhựa bên trong có 18 mẫu kim loại màu vàng và nhiều mẫu kim loại màu xám đen hình viên đạn; 04 vỏ kim loại dạng vỏ đạn; 01 xe máy hiệu Winner gắn biển kiểm soát 79N2-135.29.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường tại khu vực nhà của đối tượng Nguyễn Hoàng K tại tổ 15 Ngọc Sơn, phường Ngọc Hiệp, thành phố Z, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Z thu giữ được: 01 xe Air Blade có gắn biển kiểm soát 21G1-056.05; 01 xe Novou không biển kiểm soát; 01 xe Air Blade có gắn biển kiểm soát 79N1-182.26; 01 xe Noza có gắn biển kiểm soát 75G1-028.82; 01 xe Sirius có gắn biển kiểm soát 79N9-9589; 01 vỏ đạn gần cổng ra vào; 01 dao cán Inox dài, 01 “rựa” cán gỗ dài khoảng 01 mét; 1 cân điện tử màu đen ký hiệu “928 TYPE”.
Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Hoàng K tại tổ 15 Ngọc Sơn, phường Ngọc Hiệp, thành phố Z, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Z phát hiện: 02 gói nylong chứa chất tinh thể màu trắng dạng viên nén và 01 gói nylong chứa chất tinh thể màu trắng dạng bột; 10 vỏ kim loại hình trụ tròn có đầu dài 06cm đường kính 07mm dạng viên đạn; nhiều vật dụng để tháo lắp, sửa chữa xe máy và các dụng cụ sử dụng ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 196/GĐTP/2019 ngày 28/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Không có bộ phận nào của mẫu ký hiệu A, B, C là của vũ khí quân dụng; các mẫu đạn ký hiệu A1, G, K, B1, F, I không phải đạn quân dụng; mẫu H, D là vỏ đạn đã bắn, không phải đạn quân dụng; mẫu E là loại đạn quân dụng, sử dụng cho súng quân dụng AR15.
Tại Bản kết luận giám định số 201/GĐTP/2019 ngày 09/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: Gói nylong chứa tinh thể trắng dạng bột là ma túy, có khối lượng 7,3279g (Bảy phẩy ba hai bảy chín gam), là (loại) Methamphetamine; các tinh thể dạng đóng cục, viên không phải là ma túy.
Cáo trạng số 346/CT-VKSNT ngày 27 tháng 11 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z truy tố Nguyễn Hoàng K về tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015; Nguyễn Văn P, Phan Tấn S, Lê Văn V về tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự năm 2015.
Lời trình bày của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong hồ sơ thể hiện: Nhận được tin báo của anh Huỳnh Tấn Hmất xe máy và xác định hiện nay xe đang ở địa chỉ tổ 15, Ngọc Sơn, phường NH, thành phố Z nên lãnh đạo công an phường Lộc Thọ phối hợp công an phường NH phân công các đồng chí Tạ Minh P, Nguyễn Phước T, Nguyễn Phú N, Trần Hoàng L và cùng một số người trong đội hiệp sĩ thành phố Z đến địa chỉ trên (Trong tổ công tác có đồng chí Nguyễn Phú N, Trần Hoàng L mặc đồng phục công an, số còn lại mặc thường phục). Khi vừa đến nơi, tổ công tác phát hiện chiếc xe mà anh H báo mất trộm đang dựng trong sân nhà nên tổ công tác tiến hành kiểm tra. Tuy nhiên các đối tượng đã có hành vi chống đối: cầm súng đe dọa, bắn vào tổ công tác, dùng gạch đá ném vào tổ công tác nhằm cản trở tổ công tác thi hành công vụ, đối tượng Nguyễn Hoàng K chạy thoát, đến khoảng 18 giờ cùng ngày lực lượng công an phát hiện K đang ở trước khu vực số 3 Trần Quốc Toản, phường Vạn Thắng, thành phố Z nên bắt giữ K. Vào thời điểm này, K thấy lực lượng nên bỏ chạy, do thấy K có cầm súng nên lực lượng đã bắn chỉ thiên chứ bản thân Kkhông chống đối.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Văn P, Phan Tấn S, Lê Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Z giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù;
- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 1 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phan Tấn S, Lê Văn V. Xử phạt mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K và Phan Tấn S tại bản án số 290/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Z.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu; Vật chứng vụ án; án phí và quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, đại diện của đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
Về nội dung: Vào khoảng 16 giờ 45 phút ngày 26 tháng 3 năm 2019, tại khu vực tổ 15 Ngọc Sơn, NH, thành phố Z, Nguyễn Hoàng K đã có hành vi cầm súng đe dọa, bắn vào lực lượng Công an đang tiến hành kiểm tra nơi ở của K và hô hào cho các đối tượng Nguyễn Văn P, Lê Văn V, Phan tấn S để các đối tượng này dùng gạch, đá ném vào lực lượng Công an cản trở lực công an thực thi công vụ để Nguyễn Hoàng Kbỏ trốn.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu biên bản sự việc, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 346/CT-VKSNT ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Văn P, Phan Tấn S, Lê Văn V về tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 330 của Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến việc thực hiện công vụ của người thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước; Làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính ngông cuồng, coi thường kỷ cương, pháp luật Nhà nước. Do đó, cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra; Có như vậy mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, đối với từng bị cáo xét về nhân thân, tính chất và mức độ phạm tội có khác nhau nên cần xem xét khi quyết định hình phạt.
* Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo:
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K: Bị cáo là khởi xướng, là người đầu tiên có hành vi chống đối, bị cáo đã hô hào, xúi giục, lôi kéo những bị cáo khác chống lại lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ mục đích để giúp bị cáo bỏ trốn. do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 330 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo K. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, từ năm 1995 bị cáo đã bị Tòa án các cấp xử phạt về các tội: Cướp tài sản công dân; Cướp tài sản xã hội chủ nghĩa; Mua bán trái phép chất ma túy với hình phạt đã tuyên tù chung thân; Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự; Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo sớm trở thành người có ích cho xã hội.
Xét vai trò trong đồng phạm, bị cáo Nguyễn Hoàng Klà người khởi xướng, thực hiện hành vi quyết liệt; dùng súng bắn vào lực lượng chức năng, hô hào, lôi kéo, xúi giục các đối tượng khác cùng chống đối lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ, hành vi của bị cáo thể hiện tính ngông cuồng, coi thường pháp luật, sau khi phạm tội lại bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra nên cần áp dụng mức hình phạt cao nhất trong đồng phạm
Đối với bị cáo Nguyễn Văn P, Phan Tấn S, Lê Văn V: là người thực hành và cũng là người giúp sức dùng đá, gạch ném vào lực lượng thi hành công vụ nhằm tạo điều kiện cho K bỏ trốn, trong đó vai trò của bị cáo Nguyễn Văn P là tích cực nhất, bởi chính P là người khi tiếp nhận ý chí của K, đã chủ động mở cửa cổng cho K, dùng gạch đá dưới đất ngay cổng ném vào tổ công tác. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P, Phan Tấn S, Lê Văn V. Riêng đối với bị cáo Phan Tấn S, Lê Văn V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bản thân chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với S, V. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: cần xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P mức án thấp hơn so với bị cáo Nguyễn Hoàng Kh nhưng cao hơn so với bị cáo Phan Tấn S, Lê Văn V; Các bị cáo Phan Tấn S và Lê Văn V mức án tương đương nhau cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án:
Bản án số 290/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt Nguyễn Hoàng K 02 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Xử phạt Phan Tấn S 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; nên Hội đồng xét xử áp đụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của hai bản án và buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Đối với hành vi ném đá trúng anh Nguyễn Văn H của Nguyễn Văn P: Anh H đã có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về hành vi này.
Đối với số ma túy thu giữ tại nhà Nguyễn Hoàng K tại tổ 15 Ngọc Sơn, phường Ngọc Hiệp, thành phố Z; Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Z đã ra quyết định khởi tố vụ án và Quyết định tạm đình chỉ điều tra, quyết định tách vụ án, hiện nay Cơ quan cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.
Đối với 10 viên đạn quân dụng thu giữ được tại nhà Nguyễn Hoàng K, Cơ quan – Cảnh sát điều tra công an thành phố Z đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan an ninh điều tra – Công an tỉnh Khánh Hòa thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng súng và đạn không phải vũ khí quân dụng và sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoàng K, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Z đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này.
Đối với các xe và biển kiểm soát thu giữ tại nhà của Nguyễn Hoàng K, Cơ quan Cảnh sát điều tra – công an thành phố Z đang tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các đối tượng Lê Duy D, Lê Thị Diệu T, Nguyễn Thị Tường V, Lý Huỳnh N, Nguyễn Thị Diễm Q, Nguyễn Ngọc Vũ Đ, Nguyễn Văn P đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Z ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền.
Đối với các hành vi bắt giữ người trái pháp luật; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy; Tòa án nhân dân thành phố Z đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z để làm rõ các hành vi nêu trên nhưng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Z cho rằng không có căn cứ. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận K là người cung cấp ma túy để các bị cáo cùng sử dụng. Mỗi lần sử dụng ma túy, các bị cáo cùng sử dụng chung; Không có việc K trả công hoặc thanh toán bằng ma túy cho các bị cáo khác, vì tình nghĩa anh em nên các bị cáo đã đến nhà giúp K, không lấy tiền công; Ngoài ra, cũng không thấy có việc Nguyễn Hoàng K bắt giữ Lý Huỳnh N tại nhà như lời N đã trình bày. Hiện tại, Lý Huỳnh N không có mặt tại nơi cư trú. Do đó, để tránh bỏ lọt hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ các hành vi nêu trên, nếu có căn cứ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ:
- 01 khẩu súng dạng ru – lô ký hiệu 18Q03190; 01 khẩu súng màu đen, thân súng ký hiệu ZRCWL02180800098; 01 khẩu súng ngắn màu đen, thân súng ký hiệu FS1001 Made in Taiwan; 24 viên đạn màu vàng; 21 viên đạn hình trụ, 05 viên đạn đầu trì màu xám; 04 vỏ đạn; 01 bình nhựa có gắn 02 ống hút dùng để sử dụng ma túy là vật cấm tàng trữ và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy
- 01 dao cán Inox, 01 rựa cánbằng gỗ; 1 cân điện tử màu đen; 01 dao bấm dạng dao gấp có chữ Strider Knive; 01 túi hiệu ADIDAS màu đỏ đen; 01 đèn pin; 01 đèn chiếu sáng ký hiệu ML6B35W; 02 điện thoại di động NOKIA đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 điện thoại cảm ứng không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 thẻ ngân hàng; 01 máy hàn Legi, 01 máy khoan hiệu Bosch, 01 máy mài và đánh bóng, 01 cân nhỏ, 21 “gác-ba-ga”bằng kim loại, 14 tuốc nơ vít, 23 cà lê, 02 mỏ lết, 01 kiềm cắt, 01 búa, 02 đoạn kim loại dùng để tháo lốp; 01 dao kim loại, 01 cây tông; 03 điện thoại di động hiệu Itel, Nokia và Iphone đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm ngàn đồng) là tài sản cá nhân của bị cáo Nguyễn Hoàng Khánh nên trả lại cho bị cáo Khánh.
- 02 chứng minh nhân dân tên Lê Thị Thủy T Phan Hoàng Tuấn A không phải là vật chứng trong vụ án và 01 xe máy hiệu Honda, loại Winner gắn biển kiểm soát 79N2-135.29, số khung: 2603GY215578, số máy: KC26E1041848, màu xanh đen hiện chưa xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nên giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Nha Trang xử lý theo quy định.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 01 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Z và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Z và Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 24/6/2020 )
Về án phí: các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Văn P, Phan Tấn S, Lê Văn V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 330; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoàng K.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng K (Kkê) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của bản án số 290/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 27 tháng 3 năm 2019.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27 tháng 3 năm 2019.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phan Tấn S
Xử phạt: Bị cáo Phan Tấn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của bản án số 290/2019/HSST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Z xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của các bản án là 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 28 tháng 3 năm 2019.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn V
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28 tháng 3 năm 2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 khẩu súng dạng ru – lô ký hiệu 18Q03190; 01 khẩu súng màu đen, thân súng ký hiệu ZRCWL02180800098; 01 khẩu súng ngắn màu đen, thân súng ký hiệu FS1001 Made in Taiwan; 24 viên đạn màu vàng; 21 viên đạn hình trụ, 05 viên đạn đầu trì màu xám; 04 vỏ đạn; 01 bình nhựa có gắn 02 ống hút dùng để sử dụng ma túy.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng K: 01 dao cán Inox, 01 rựa cánbằng gỗ; 1 cân điện tử màu đen; 01 dao bấm dạng dao gấp có chữ Strider Knive; 01 túi hiệu ADIDAS màu đỏ đen; 01 đèn pin; 01 đèn chiếu sáng ký hiệu ML6B35W; 02 điện thoại di động NOKIA đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, 01 điện thoại cảm ứng không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 thẻ ngân hàng; 01 máy hàn Legi, 01 máy khoan hiệu Bosch, 01 máy mài và đánh bóng, 01 cân nhỏ, 21 “gác-ba-ga” bằng kim loại, 14 tuốc nơ vít, 23 cà lê, 02 mỏ lết, 01 kiềm cắt, 01 búa, 02 đoạn kim loại dùng để tháo lốp; 01 dao kim loại, 01 cây tông; 03 điện thoại di động hiệu Itel, Nokia và Iphone đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm ngàn đồng).
- Giao cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Z xử lý theo quy định: 02 chứng minh nhân dân tên Lê Thị Thủy T, Phan Hoàng Tuấn A và 01 xe máy hiệu Honda, loại Winner gắn biển kiểm soát 79N2-135.29, số khung: 2603GY215578, số máy: KC26E1041848, màu xanh đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 01 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Z và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Z và Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ngày 24/6/2020 )
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Nguyễn Văn P, Phan Tấn S, Lê Văn mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo. - Đương sự; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở tư pháp Khánh Hòa; - VKSND thành phố Z; - Công an TP. Z; - Thi hành án dân sự Z; -Lưu: Án văn + Hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ THỊ HẠNG |