- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Đ "trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:89/2020/HS-ST Ngày: 30/6/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Ngọc Phú
2. Ông Nguyễn Minh Tân
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2020/TLST- HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2020/QĐXXST- HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Văn Đ, sinh năm 1989 tại thôn P, xã Gi, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn X và bà Nguyễn Thị L; Có vợ là Nguyễn Thị Đ và 01 con.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ - XPHC ngày 21/6/2019 của Công an huyện Gia Lộc phạt tiền Lê Văn Đ 1.500.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã nộp phạt ngày 24/6/2019).
Nhân thân:
- Quyết định số 02/QĐ - XPHC ngày 25/02/2016 của Công an xã Ngọc Sơn – huyện Tứ Kỳ - Hải Dương xử phạt về hành vi Trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng. Nộp tiền ngày 06/3/2016.
- Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/2020/QĐ-TA ngày 31/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc - tỉnh Hải Dương buộc Đ chấp hành 18 tháng tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Bản án số 160/2007/HSST ngày 07/11/2007 của Tòa án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Nộp án phí ngày 20/3/2008.
- Bản án số 02/2008/HSST ngày 24/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Tổng hợp hình phạt của bản án 160/2007/HSST ngày 07/11/2007 và bản án 02/2008/HSST ngày 24/01/2008 buộc Đ phải chấp hành hình phạt chung là 48 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tính từ ngày 11/6/2007. Nộp án phí ngày 03/6/2008, được đặc xá ngày 17/01/2009.
- Bản án số 161/2012/HSST ngày 14/9/2012 của Tòa án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nộp án phí ngày 14/9/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2014.
- Bản án số 31/2016/HSST ngày 28/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản (Trị giá tài sản 990.000 đồng). Nộp án phí ngày 20/9/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2017.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/4/2020 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
2.2. Bị hại:
- Chị Tăng Thị Ng, sinh năm 1975; Anh Phan Văn T, sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Gi, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. (Đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
2.3. Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Hải H, sinh năm 2000
Địa chỉ: Số 57 Phố C, thị trấn Gi, tỉnh Hải Dương.
- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1977
Địa chỉ: L, Th, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn Đ nghiện chất ma túy nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền chi tiêu. Khoảng 02 giờ ngày 23/12/2019, Đ đi bộ từ nhà đến ngã tư gần UBND xã Gi, thành phố Hải Dương rồi đi vào sân nhà chị Tăng Thị Ng và anh Phan Văn T ở cuối ngõ. Thấy nhà không có ai, trong sân dựng 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Giant màu sơn đen ở sân gần mép hè đang sạc điện, Đ rút sạc cho vào cốp xe rồi rong xe về nhà ở thôn P, xã Gi, Gia Lộc, Hải Dương. Khi dắt đến cổng nhà thì Đ dựng xe ngoài cổng rồi sau đó đi ngủ. Sáng ngày 23/12/2019, Đ mang chiếc xe máy điện trên đến quán cầm đồ chị Bùi Thị T ở 57 phố C, Thị trấn Gi, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, do chị T đi vắng không có nhà nên Đ gặp anh Nguyễn Hải H (là con trai chị T, được chị T giao cho trông coi cửa hàng) trao đổi với anh H chiếc xe trên là của Đ, muốn cầm xe với số tiền 1.000.000 đồng, anh H đồng ý và đưa cho Đ số tiền 1.000.000đ. Khoảng 01 tuần sau Đ quay lại gặp anh H nói muốn bán chiếc xe máy điện với giá 1.350.000 đồng, anh H đồng ý và đưa cho Đ 350.000 đồng. Số tiền trên Đ đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 08/01/2020 chị Ng có đơn trình báo về việc mất xe máy điện.
Ngày 07/01/2020, anh H đã giao nộp 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Giant màu sơn đen và 01 chiếc sạc điện màu đen nhãn hiệu Shen Hu cho Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Ngày 13/01/2020, Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương đã có công văn trao đổi và chuyển toàn bộ vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương để giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra Lê Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá số 11 ngày 18/02/2020 và Kết luận định giá số 32 ngày 29/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Dương kết luận: Giá trị 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Giant, số loại MOMENTU màu sơn đen là: 2.765.000 đồng; Giá trị 01 chiếc sạc điện màu đen, nhãn hiệu Shen Hu (Thâm Hổ) do Trung Quốc sản xuất trị giá là 140.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 2.905.000đ.
Bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 28/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố Lê Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại chị Tăng Thị Ng và anh Phan Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt xác định đã nhận được tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Hải H có đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 1.350.000đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đạo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 07 đến 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 11/4/2020; Hình phạt bổ sung: không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ hoàn trả: Không giải quyết; Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ ngày 23/12/2019, tại nhà chị Tăng Thị Ng ở thôn Đ, xã Gi, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Lê Văn Đ đã có hành vi lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt của gia đình chị Ng 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Giant, số loại MOMENTU màu sơn đen là: 2.765.000 đồng và 01 chiếc sạc điện màu đen, nhãn hiệu Shen Hu (Thâm Hổ) do Trung Quốc sản xuất trị giá là 140.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 2.905.000đ.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức tài sản thuộc sở hữu người khác là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ nhưng vì mục đích vụ lợi bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm tài sản của người khác mà còn làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị Công an huyện Gia Lộc xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền. Đánh giá về nhân thân bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo nhiều lần bị kết án cũng như bị xử phạt hành chính và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng không lấy đó là bài học rút kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do không có thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại bà Tăng Thị Ng và ông Phan Văn T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên HĐXX không giải quyết.
- Nghĩa vụ hoàn trả: Anh Nguyễn Hải H không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 1.350.000đ nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
. Về các vấn đề khác: Anh Nguyễn Hải H khi mua chiếc xe đạp điện không biết là xe do Lê Văn Đ trộm cắp tài sản mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố : Bị cáo Lê Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Xử phạt : Bị cáo Lê Văn Đ 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 11 tháng 4 năm 2020.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N¬i nhËn:
T.m Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- VKSND thành phố Hải Dương;
| - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu |