vanban.org

Bản án 89/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2020/HS-ST
Ngày 26-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Ông Nguyễn Văn Hạnh

Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Hải Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân N, sinh năm 1978 tại H. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 59/182 Đ, phường L, quận N, thành phố H; nơi tạm trú: Số 117 lô 7C Đ, quận N, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị C (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích: Án số 15/2017/HSST ngày 02/8/2017 Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xóa án); Án số 122/2017/HSST ngày 29/8/2017 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xóa án); bị cáo bị tạm giữ ngày 26/3/2020; tạm giam ngày 01/4/2020; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số 14 C, phường M, quận H, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ 15 phút ngày 26/3/2020, Nguyễn Xuân N một mình đi xe máy biển kiểm soát: 15AA-046.11 từ nhà đến bệnh viện Việt Tiệp với mục đích tìm cơ hội trộm cắp tài sản. N để xe ở khu vực vỉa hè bờ hồ Tam Bạc đi bộ vào Phòng 101 khu nhà I bệnh Việt Tiệp, quan sát buồng bên ngoài không có ai, N đi tiếp vào buồng bên trong thấy chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1983, đăng ký thường trú: số 14 C, phường M, quận H, H nằm ở giường phía bên phải đang nhắm mắt, ở cạnh người có 01 chiếc điện thoại di động, loại cảm ứng, màn hình màu đen. Nghĩ chị L đã ngủ say, N đi đến gần giường, dùng tay phải lấy điện thoại, bất ngờ chị L mở mắt phát hiện, hô hoán. N cầm điện thoại bỏ chạy thì bị chị L túm vào áo kéo lại. Chị L bị tuột tay ngã nên N bỏ chạy được ra ngoài. Khi qua khu vực gần cửa phòng (cách vị trí lấy điện thoại khoảng 04 mét), N đã thả điện thoại xuống đất. Nghe thấy tiếng hô hoán, tổ công tác Công an phường Cát Dài cùng bảo vệ của bệnh viện đang tuần tra ở gần đó đã truy đuổi và bắt giữ Nguyễn Xuân N tại khu vực giặt là của bệnh viện (cách vị trí phòng 101 khoảng 30 mét), thu giữ vật chứng và đưa về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của N 01 xe máy biển kiểm soát: 15AA-046.11.

Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 23/KL-ĐGTTHS ngày 26/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản quận Lê Chân kết luận: Giá trị còn lại của 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, loại OPPO A3s, màn hình cảm ứng của chị Nguyễn Thị Ngọc L là 2.050.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị hại chị Nguyễn Thị Ngọc L và người làm chứng là anh Nguyễn Xuân P khai phù hợp với nội dung nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân N đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra, N còn khai mượn chiếc xe máy biển kiểm soát: 15AA-046.11 của con trai là Nguyễn Hoàng V, sinh năm 2001, nơi cư trú: Thôn T, L, T, H, N không nói cho Việt biết việc đi trộm cắp tài sản.

Tại Bản Cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 26/5/2020, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu và bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại chị Nguyễn Thị Ngọc L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai và thể hiện quan điểm của chị L nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị L. Tại giai đoạn điều tra chị L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân N đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo), xử phạt: Nguyễn Xuân N mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3s, vỏ màu đỏ của chị Nguyễn Thị Ngọc L, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L quản lý, sử dụng. Chị L không có yêu cầu về bồi thường dân sự.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát: 15AA-046.11 quá trình điều tra xác định được là tài sản hợp pháp của Nguyễn Hoàng V, anh V không biết, không tham gia cùng N thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho anh Việt.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Hồi 06 giờ 15 phút ngày 26/3/2020, bị cáo Nguyễn Xuân N đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là một chiếc 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, loại OPPO A3s, màn hình cảm ứng, trị giá tài sản theo kết luận của Hội đồng định giá là 2.050.000 đ (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Vì vậy hành vi của Nguyễn Xuân N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Xuân N về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm, bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có hai tiền án đều chưa được xóa án: Án số 15/2017/HSST ngày 02/8/2017 Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Án số 122/2017/HSST ngày 29/8/2017 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Do bản án số 15/2017/HSST của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh xét xử đối với bị cáo về hành vi phạm tội xảy ra sau, bản án số 122/2017/HSST của Tòa án nhân dân quận Lê Chân xét xử đối với bị cáo về hành vi phạm tội xảy ra trước nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Xuân N 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 26 tháng 3 năm 2020.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại chị Nguyễn Thị Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ