vanban.org

Bản án 89/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 28/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Phú H; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 27/5/2020 Tòa án nhân dân quận N.

Áp dụng b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Cao Phú H phạm tội Trộm cắp tài sản. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Cao Phú H phạm tội Trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Phú H; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 27/5/2020 Tòa án nhân dân quận N.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2020/HS-PT
Ngày: 28-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Quí.

Bà Bùi Thị Cẩm Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông La Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2020/TLPT-HS ngày 03/8/2020, đối với bị cáo Cao Phú H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 74/2020/HS-ST, ngày 27/5/2020 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị cáo có kháng cáo:

Cao Phú H(tên gọi khác: T), sinh năm 1992, tại Cần Thơ.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Phú Q (chết) và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chưa có vợ con;

+ Tiền án: Tại bản án số 15/2018/HS-ST ngày 25/01/2018 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong ngày 02/10/2018.

+ Tiền sự: Không;

+ Nhân thân:

Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường giáo dưỡng số 2554 ngày 20/8/2008 của Ủy ban nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ với thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 04/3/2010;

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 008956 ngày 03/4/2013 của Công an phường H, quận N, thành phố Cần Thơ phạt 1.500.000 đồng đối với hành vi “Trộm cắp tài sản” – đã đóng phạt xong vào ngày 03/4/2013.

Tại Bản án số 277/2013/HS-ST ngày 26/12/2013 của Tòa án nhân dân quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong ngày 25/3/2014.

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0014822 ngày 05/6/2017 của Công an quận N thành phố Cần Thơ phạt 2.500.000 đồng đối với hành vi “Có lời nói lăng mạ người thi hành công vụ” – hết thời hiệu thi hành.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ rạng sáng ngày 28/11/2019, sau khi uống rượu cùng bạn bè xong, Cao Phú H điều khiển xe mô tô Honda Vision màu đen biển số 95E1-027.35 chạy về hướng khu dân cư B, đường Nguyễn Văn L, phường A, quận N; khi đến trước nhà số khu vực 6, phường A, quận N, H thấy nhà không đóng cửa mà chỉ có anh La Hồng P đang nằm ngủ trên ghế bố chắn ngang cửa nên nảy sinh ý định đi vào nhà tìm tài sản lấy trộm. H giấu xe mô tô bên trong bãi cỏ gần đó rồi đi bộ vào trong nhà, nhìn thấy điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro của anh La Hồng P để trên ghế, H lấy điện thoại cầm trên tay; sau đó tiếp tục mở cửa phòng nhưng gây tiếng động làm anh P giật mình thức giấc, H cầm điện thoại chạy ra khỏi nhà, anh P tri hô, cùng anh Ngô Phước T đuổi theo H. Thấy bị truy đuổi H quăng trả điện thoại vừa lấy lại cho anh P rồi nhảy xuống sông lẫn trốn. Anh P không tiếp tục đuổi theo H mà nhặt lại điện thoại rồi quay về nhà thì phát hiện có 01 xe mô tô giấu trong bụi cỏ nên anh P trao đổi với anh T sẽ mang xe này giao nộp cho Công an xử lý. H đã chủ động đến gặp anh P thừa nhận mình là người lấy trộm điện thoại và xin nhận lại xe thì bị anh P giữ lại rồi báo sự việc cho Công an phường A.

Tang vật thu giữ: 01 điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro màu vàng, 01 xe mô tô Honda Vision màu đen – bạc biển số 95E1-027.35, 01 điện thoại di động Huawei màu đen.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 130/BKL-HĐĐG ngày 14/02/2020 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự kết luận: điện thoại Samsung Galaxy J7 Pro chất lượng còn lại 50%, giá trị 1.600.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản án số 74/2020/HS-ST ngày 27/5/2020 của Tòa án nhân dân quận N đã căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Cao Phú H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và các quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi tuyên án sơ thẩm, vào ngày 29 tháng 5 năm 2020, bị cáo Cao Phú H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo xin được hưởng án treo vì mẹ bị cáo bị bệnh tim cần người chăm sóc.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết nào mới nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ y Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đối chiếu các chứng cứ thấy rằng quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của pháp luật. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được định giá là 1.600.000 đồng. Bị cáo đã có tiền án 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích lại tiếp tục trộm cắp tài sản nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, sau khi chấp hành án phạt tù lẽ ra bị cáo phải biết cải sửa bản thân để hòa nhập vào cuộc sống lao động chung của xã hội nhưng vì lười lao động, thích hưởng thụ bị cáo đã bất chấp pháp luật nên cần có hình phạt nghiêm khắc mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đều đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi lượng hình; mức án 01 năm 03 tháng tù Tòa cấp sơ thẩm đã tuyên là có cơ sở. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm chứng cứ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận. Kiểm sát viên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Phú H; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 74/2020/HS-ST ngày 27/5/2020 Tòa án nhân dân quận N.

Áp dụng b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Cao Phú H phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Cao Phú H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HI ĐỒNG XÉT XỬ P THẨM

Cỡ chữ