- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về lý vật chứng áp d ng Điều 47 Bộ luật H nh sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng H nh sự: Tịch thu tiêu h y 01 vỏ gói m t m ăn liền nhãn hiệu “Hảo Hảo” (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2019 c a Chi c c Thi hành án dân sự huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 65 Bộ luật H nh sự; Điều 173 Bộ luật H nh sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------------------------------------------------------------- Bản án số: 89/2019/HS-ST Ngày: 09-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhã
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Bà Bùi Thúy Mở
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đồng Thị Yến, Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại tr sở Tòa án nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng t s th m c ng khai v án h nh sự s th m th lý số: 97/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa v án ra t số: 93/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
N ng Văn T, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1990 tại tỉnh Yên Bái; N i cư trú: Thôn K, xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tr nh độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông N ng Văn Q, sinh năm 1961 và con bà Hoàng Thị N, sinh năm 1962; Có vợ Hứa Thị L1, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Kh ng; Nhân thân: Không; Bị cáo bị áp d ng biện pháp Cấm đi khỏi n i cư trú từ ngày 05/7/2019; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lư ng Thị T1, là Trợ giúp viên pháp lý c a Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1988; N i cư trú: Th n 5, ã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 28/6/2019, chị Phạm Thị C điều khiển e t nhãn hiệu Mazda CX5 màu s n trắng, biển kiểm soát 15A-343.94 đến khu vực chùa Linh S n thuộc th n N, xã P, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị Phạm Thị C đỗ e ở khu vực lối vào chùa, gần vị trí lán nghỉ c a đội thợ mộc đang thi c ng tại chùa. Chị Phạm Thị C uống e nhưng kh ng khóa c a e t , đi bộ ung quanh chùa để hóng mát. N ng Văn T là thợ mộc đang thi c ng c ng tr nh c a chùa Linh S n, đi qua e t c a chị Phạm Thị C phát hiện e t kh ng khóa c a, kh ng có người tr ng coi. N ng Văn T đã nảy sinh ý định mở c a e để lấy tài sản. Nông Văn T mở c a e phía sau ghế lái th thấy tại ghế ph phía trước có 01 áo chống nắng, 01 túi ách màu nâu, 01 ví màu đỏ. N ng Văn T nhoài người lên trên ghế ph lấy chiếc ví màu đỏ, kiểm tra trong ví có 03 cọc tiền loại tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng buộc nịt, 01 điện thoại di động màu đen. Tùng lấy 03 cọc tiền cất giấu vào túi quần rồi k o khóa ví và để ví vào vị trí cũ, sau đó uống e đóng c a lại. N ng Văn T đi ra khu vực tường phía sau chùa gần bể nước kiểm đếm 03 cọc tiền gồm: 02 cọc tiền mỗi cọc tiền có 20 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 01 cọc tiền gồm 10 tờ mệnh giá 500.000 đồng và 25 tờ mệnh giá 200.000 đồng. Tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Kiểm tra ong, N ng Văn T để 03 cọc tiền vào trong vỏ gói m t m ăn liền nhãn hiệu “Hảo Hảo” rồi giấu tại khu vực tường phía sau chùa gần bể nước. Khoảng 18 giờ cùng ngày, chị Phạm Thị C quay lại e phát hiện bị mất tiền nên chị đã đến Công an xã Phù Ninh trình báo. Đến 06 giờ ngày 29/6/2019, N ng Văn T đã đến C ng an ã Phù Ninh tự thú, khai n i cất giấu tiền. C quan điều tra đã tiến hành thu giữ số tiền 30.000.000 đồng được gói trong vỏ gói m t m ăn liền nhãn hiệu “Hảo Hảo” tại khu vực sát tường phía sau chùa gần bể nước.
Vật chứng c a v án gồm: 01 vỏ gói m t m ăn liền nhãn hiệu “Hảo Hảo” chuyển Chi c c Thi hành án dân sự huyện Th y Nguyên. Đối với số tiền 30.000.000 đồng, quá tr nh điều tra ác định là tiền thuộc sở hữu hợp pháp c a chị Phạm Thị C nên C quan C ng an đã trả lại cho chị Phạm Thị C để s d ng. Đối với 01 áo s mi dài tay rằn ri, 01 quần vải dài màu anh tím là quần áo N ng Văn T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, C quan C ng an đã trả lại cho Nông Văn T.
Về dân sự: Chị Phạm Thị C kh ng có yêu cầu bồi thường thiệt hại và có đ n in giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự đối với N ng Văn T.
Cáo trạng số 97/CT-VKSTN ngày 18 tháng 9 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo N ng Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật H nh sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo nhưng đề nghị giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai trong hồ s v án đã tr nh bày đúng như nội dung v án đã được tóm tắt ở trên. Người bào chữa cho bị cáo tr nh bày đồng ý với luận tội c a Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng t chấp nhận đề nghị c a Kiểm sát viên tại phiên tòa và có thể cho bị cáo h nh phạt cải tạo kh ng giam giữ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp d ng và đề nghị Hội đồng t : Áp d ng khoản 1 Điều 173, điểm i, r, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 c a Bộ luật H nh sự, phạt bị cáo Nông Văn T với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và cho hưởng án treo, ấn định thời gian th thách phù hợp và giao bị cáo cho chính quyền địa phư ng giám sát, giáo d c trong thời gian th thách. Không áp d ng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt hại kh ng có yêu cầu nên kh ng em xét. X lý vật chứng áp d ng Điều 47 c a Bộ luật H nh sự và Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng h nh sự đề nghị lý vật chứng theo quy định c a pháp luật. Bị cáo được miễn án phí h nh sự s th m theo quy định c a pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố t ng:
. Các hành vi, quyết định tố t ng c a c quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng trong quá tr nh điều tra, truy tố, t đều hợp pháp.
- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:
Lời khai c a bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại c quan điều tra, phù hợp lời khai c a bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ s v án. V vậy, đã có đ c sở để kết luận như sau: Ngày 28/6/2019 lợi d ng s hở c a chị Phạm Thị C, bị cáo N ng Văn T đã l n lút chiếm đoạt c a chị Phạm Thị C số tiền 30.000.000 đồng. Nên hành vi c a các bị cáo N ng Văn T đ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật H nh sự. Cáo trạng số 97/CT-VKSTN ngày 18 tháng 9 năm 2019 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Th y Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên và lời luận tội c a Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng c a hành vi phạm tội, các t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự, t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, nhân thân c a bị cáo và h nh phạt áp d ng:
. Về t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Bị cáo kh ng có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự.
Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã tự thú và bị hại có đ n in giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự do đó bị cáo có các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại điểm i, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật H nh sự.
Về nhân thân c a bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, có việc làm thể hiện là có nhân thân tốt.
Tính chất c a v án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội c a bị cáo là ít nguy hiểm đã âm phạm tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ, v vậy thấy cần thiết phải áp d ng h nh phạt tù trên mức khởi điểm đối với bị cáo. Do bị cáo bị
phạt tù kh ng quá 03 năm, có nhân thân tốt, có từ 02 t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự trở lên và kh ng có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự, có n i cư trú rõ ràng x t thấy kh ng cần phải bắt chấp hành h nh phạt tù v bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo kh ng gây nguy hiểm cho ã hội, kh ng ảnh hưởng ấu đến an ninh, trật tự, an toàn ã hội. Như vậy mức h nh phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với h nh phạt bổ sung, Hội đồng t
t thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều t nh tiết giảm nhẹ h nh sự và có hoàn cảnh khó khăn nên kh ng áp d ng h nh phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về những vấn đề khác:
Về dân sự: Kh ng có yêu cầu nên Hội đồng t không xem xét.
Về lý vật chứng: Áp d ng Điều 47 Bộ luật H nh sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng H nh sự tịch thu tiêu h y 01 vỏ gói m t m ăn liền nhãn hiệu “Hảo Hảo” vì liên quan đến tội phạm và kh ng còn giá trị s d ng.
Về án phí: Do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các ã có điều kiện kinh tế - ã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và in miễn án phí nên bị cáo được miễn án phí h nh sự s th m theo quy định c a pháp luật.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 c a Bộ luật H nh sự, phạt: N ng Văn T 18 (mười tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và cho hưởng án treo. Ấn định thời gian th thách là 36 (ba mư i sáu) tháng, thời điểm bắt đầu tính thời gian th thách là ngày tuyên án s th m. Giao N ng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo d c trong thời gian th thách. Trong trường hợp N ng Văn T thay đổi n i cư trú th thực hiện theo quy định c a pháp luật về thi hành án h nh sự. Trong thời gian th thách, N ng Văn T cố ý vi phạm nghĩa v 02 lần trở lên th Tòa án có thể quyết định buộc N ng Văn T phải chấp hành h nh phạt tù c a bản án đã cho hưởng án treo.
Về lý vật chứng áp d ng Điều 47 Bộ luật H nh sự và Điều 106 Bộ luật Tố t ng H nh sự: Tịch thu tiêu h y 01 vỏ gói m t m ăn liền nhãn hiệu “Hảo Hảo” (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2019 c a Chi c c Thi hành án dân sự huyện Th y Nguyên, thành phố Hải Phòng).
Về án phí áp d ng Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh sự; Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường v Quốc hội: Bị cáo N ng Văn T được miễn nộp tiền án phí h nh sự s th m.
Về quyền kháng cáo áp d ng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố t ng h nh sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; -VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam C ng an TP Hải Phòng; -VKSND huyện Th y Nguyên; - Chi c c THADS huyện Th y Nguyên; - CQCSĐT C ng an huyện Th y Nguyên; - Chính quyền cấp ã n i bị cáo cư trú; - Bị cáo; Người tham gia tố t ng khác; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - PV27, CAHP; - Lưu: VT; HCTP; Hồ s v án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhã |