vanban.org

Bản án 89/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 12/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang N phạm tội: Cưỡng đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án (Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09-5-2019 đến ngày 19-7-2019). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang N - tội "Cưỡng đoạt tài sản" - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang N phạm tội: Cưỡng đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH N ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2019/HS-ST
Ngày 12 -11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH N ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Anh Quế

Bà Nguyễn Thị Kim Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh N Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh N Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2019/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Quang N, sinh năm 1985; tên gọi khác: Nguyễn Đức N; đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông: Nguyễn Quang N, sinh năm 1955; con bà: Đỗ Thị C, sinh năm 1958; vợ: Hoàng C, sinh năm 1990; có 01 con, sinh năm 2019; nhân thân: Bản án số 22/2009/HSST ngày 06-5-2009 của TAND huyện V tỉnh Thái Bình xử phạt N 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đã thi hành xong ngày 22-6-2009; tiền án, tiền sự: Chưa; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09-5-2019 sau đó chuyển tạm giam, đến ngày 19-7-2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: Bảo lĩnh. Hiện tại ngoại. Có mặt.

- Người bị hại: Chị NBH, sinh năm 1999; đăng ký hộ khẩu: Đội 1, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi ở: Số 20 đường Phan Kế Bính, thành phố N Định, tỉnh N Định.

- Người làm chứng: NLC1, sinh năm 1981, trú tại: Số nhà 11/13/149 đường Phủ Thượng Đoạn, quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Quang N dùng số điện thoại 0983506506 lập tài khoản zalo “Yên Bình” (trước khi bị bắt khoảng nửa tháng N đổi tên thành “Panda”), dùng số điện thoại 0906032464 lập tài khản zalo “Lặng thầm”, dùng số điện thoại 0396796579 lập tài khoản zalo “Lucky man” để sử dụng.

Khoảng tháng 6-2018, N kết bạn với chị NBH sử dụng tài khoản zalo “NBH Nguyễn” được lập bằng số điện thoại 0349826469 của chị NBH. Sau đó, N và chị NBH phát sinh quan hệ tình cảm yêu đương. Trong thời gian yêu nhau, chị NBH và N NBH xuyên nhắn tin, liên lạc qua mạng di động hoặc qua mạng xã hội Zalo, để tâm sự và tNBH xuyên đến các nhà nghỉ trên địa bàn thành phố N Định, thành phố Hải Phòng để quan hệ tình dục, nhiều lần N đã sử dụng điện thoại Samsung Note 9 của mình quay lại cảnh hai người quan hệ tình dục, chị NBH biết và bảo quay lại rồi xem xong thì xóa đi, N cũng xóa những clip này. Trong thời gian này, chị NBH nhiều lần ra Hải Phòng chơi và gặp NLC1 (là bạn của N). Hạnh mượn tài khoản “Lucky man” của N để nhắn tin qua lại với chị NBH. Khi thấy Hạnh và chị NBH trở nên thân thiết, thì N đề nghị với chị NBH hẹn gặp Hạnh để quan hệ tình dục 3 người và chị NBH đồng ý. Trong một lần quan hệ tình dục 3 người, tại nhà nghỉ ở thành phố Hải Phòng, N đã lén quay lại cảnh quan hệ tình dục giữa chị NBH với Hạnh. Ngày hôm sau, khi đi đá bóng cùng nhau, N cho Hạnh xem đoạn clip sex của chị NBH và Hạnh. Hạnh nói quay rõ mặt Hạnh như thế, bảo N xóa đi và N đã xóa.

Khoảng tháng 11-2018, N và chị NBH cãi nhau, nên N giả danh anh Hạnh dùng tài khoản zalo “Lucky man” của N để nhắn tin, nói chuyện và hỏi thăm sức khỏe của chị NBH và thông báo cho chị NBH biết việc N đang giữ các clips sex.

Đến khoảng tháng 01-2019, chị NBH biết N kết hôn với người khác, nên đe dọa sẽ nói cho vợ N biết chuyện tình cảm giữa NBH và N. N bực tức nên đã khôi phục lại các clip sex của chị NBH mà N đã xóa trước đây và sử dụng tài khoản Zalo “Lặng thầm” giả danh là anh Hạnh nhắn tin cho chị NBH, nói là bản thân anh Hạnh đang giữ clip sex của chị NBH và yêu cầu chị NBH chuyển 110.000.000 đồng thì sẽ giao toàn bộ USB ghi lại clip sex, nếu không sẽ giao lại cho N và lấy tiền của N.

Đồng thời, trong khi sử dụng tài khoản zalo “Lặng thầm” giả danh là anh Hạnh, N sử dụng tài khoản Zalo “Yên Bình” nhắn tin vào tài khoản zalo “NBH Nguyễn” của chị NBH (N đặt biệt danh Zalo này là “Bình An”) nói là trong lúc đi đá bóng cùng N, thì anh Hạnh đã lấy được USB, trong đó có lưu clip sex, N đòi nhưng anh Hạnh không trả và yêu cầu N cho anh Hạnh vay tiền thì mới đưa trả lại USB, N giải thích với chị NBH là anh Hạnh nói vay chứ thực chất là yêu cầu N đưa tiền để trả lại USB và bảo chị NBH để N lo liệu. Sau đó, N nói với chị NBH là đã đưa cho anh Hạnh 350.000.000 đồng và lấy lại được USB từ anh Hạnh và hẹn gặp chị NBH tại Hải Phòng, tại đây N đã hủy USB trước mặt chị NBH và yêu cầu chị NBH quay lại với N, nhưng chị NBH không đồng ý. Lúc này, N nói với chị NBH là vẫn còn giữ những clip sex ở trong máy tính, N dọa sẽ đăng lên mạng. Chị NBH liền bỏ về và không liên lạc gì với N. Sau đó, N lấy lý do phải đi vay tiền lãi ngoài để đưa cho anh Hạnh mới lấy được USB về và hủy đi, nên nhắn tin hỏi vay chị NBH 70 triệu đến 100 triệu đồng, nhưng chị NBH nói không có. Sau đó, hai bên nhắn tin cãi nhau, N đã chụp màn hình máy tính còn lưu clip sex lại gửi cho chị NBH và đe dọa yêu cầu chị NBH phải đưa cho N tiền, có lúc N yêu cầu chị NBH đưa cho N 100.000.000 đồng, có lúc N lại yêu cầu chị NBH đưa 125.000.000 đồng, có lúc N yêu cầu chị NBH trả N toàn bộ số tiền 325.000.000 đồng thì N sẽ xóa các đoạn video đó đi (N nói với chị NBH là anh Hạnh đã trả cho N 25.000.000 đồng, còn giữ của N 325.000.000 đồng nữa), nếu không N sẽ cho gia đình chị NBH biết việc trên đồng thời sẽ đăng các clip đó lên mạng xã hội facebook và bán các clip đó cho chủ các website đồi trụy đề lấy 500.000.000 đồng tiêu xài.

Ngày 6-5-2019, chị NBH đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT), Công an tỉnh N Định tố cáo và nộp toàn bộ bản in các tin nhắn giữa tài khoản Zalo “NBH Nguyễn” của chị với tài khoản Zalo “Lặng thầm”, “Lucky man”, “Panda”.

Ngày 8-5-2019 N đến tỉnh Ninh Bình để giải quyết công việc. Trên đường về, N dùng số điện thoại 0983.506.506 gọi vào số điện thoại 0349.826.469 của NBH yêu cầu chuẩn bị tiền để giao cho N và hẹn gặp tại khu vực cây xăng gần BigC N Định. NBH nói hiện tại mới chỉ lo được khoảng 30 triệu - 40 triệu đồng, N đồng ý gặp NBH. Sau đó, NBH chuẩn bị 30.000.000 đồng từ nhà mang đi, khi vừa ra khỏi nhà thì khách hàng của NBH mang số tiền 190.000.000đ (là tiền NBH bán quần áo) đến trả cho NBH, nên NBH mang luôn số tiền này theo đến gặp N.

Khi thấy NBH đi xe máy đến dựng cạnh chậu cây của cây xăng, N mở cửa và bảo NBH gửi xe lại rồi lên xe ô tô của N để N chở đến quán nước nào đó ngồi trao đổi. Khi NBH lên xe, N nhìn thấy NBH mang theo một chiếc túi nhưng N không biết cụ thể đựng những gì bên trong. Khi N chuẩn bị lái xe đi, thì có 02 người đứng phía trước xe nên N lái xe lách qua và điều khiển xe đi theo hướng về cầu Tân Đệ. N nghi ngờ 02 người đứng trước xe là người quen của NBH nên N rất bực tức, vừa lái xe vừa hỏi NBH những người đó là ai, NBH trả lời là không quen biết nhưng N nghi ngờ đó là bạn bè NBH nên lo sợ, bực tức và quát nạt NBH và N lái xe đi đến khu vực ngã ba đường 10 - cầu Tân Phong thì dừng xe và quát, đuổi NBH xuống, còn N lái xe đi về hướng cầu Tân Đệ, đồng thời gọi điện đe dọa, sẽ cho NBH không ngóc đầu lên được, nếu nói cho ai biết việc này.

Trong thời gian chở NBH, N chỉ tra hỏi về những người lạ ở khu vực cây xăng và không nói gì đến việc tiền cũng như clip sex. Khi NBH xuống xe thì cầm theo cả chiếc túi, N không lấy bất cứ thứ gì của NBH. Ngay sau đó Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N Định triệu tập N lên làm việc. Tại cơ quan CSĐT N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Cùng thời điểm này chị NBH tự nguyện nộp số tiền 220.000.000đ để phục vụ điều tra và khai báo như nêu trên.

Tại CQĐT, N giao nộp 2 chiếc điện thoại mang theo là Samsung Note 9 lắp sim số 0948854854 và điện thoại Iphone 6 plus lắp sim số 0983506506. Tại thư mục “Ảnh” của điện thoại Iphone 6 plus và tại thư mục “Bộ sưu tập” của điện thoại Samsung Note 9 có lưu trữ 1 video, ghi lại cảnh chị NBH quan hệ tình dục với N và 01 video quay lại cảnh chị NBH quan hệ tình dục với Hạnh, do N quay và lưu lại, trên chiếc điện thoại Iphone 6 phus lưu toàn bộ các tin nhắn Zalo giữa tài khoản “Panda” (trước đây là Yên Bình) với tài khoản “NBH Nguyễn” của NBH (N đặt tên là Bình An) có nội dung N dùng clip sex đe dọa chị NBH nhằm chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, chị NBH còn cung cấp 3 đoạn ghi âm cuộc nói chuyện điện thoại giữa N và NBH (vào các ngày 3,6,7-5-2019) thể hiện nội dung N gọi điện yêu cầu NBH chuẩn bị tiền để giao cho N.

Cơ quan CSĐT đã ra Lệnh thu giữ thư tín, điện tín (đề nghị cung cấp thông tin đăng ký thuê bao và lịch sử cuộc gọi, tin nhắn đi và đến) đối với các số điện thoại N sử dụng: 0948854854, 0983506506 (đăng ký tài khoản Zalo “Yên Bình”), 0906032464 (đăng ký tài khoản Zalo “Lặng Thầm”) và 01696796579 (đăng ký tài khoản zalo “Lucky Man”). Kết quả thể hiện: Số 0906032464 là thuê bao trả trước, đăng ký thông tin mang tên của hai người khác nhau là: Phan Kim Phượng, sinh ngày: 14-7-1990, CMND số: 104485911 và Vũ Hồng Trinh, sinh ngày: 11-11-1998, CMND số: 031270192; số 01696796579 là thuê bao trả trước và đăng kí thuê bao mang tên Lê Thị Anh Thư, sinh ngày: 31-5-1996, số CMND: 352403735. Đây đều là các sim khuyến mại, không đăng kí chính chủ do N mua để sử dụng, sau khi dùng hết tiền N đã bỏ các sim này đi. Riêng hai số điện thoại 0948854854 và 0983506506 là thuê bao trả sau, đăng ký chính chủ tên của N, N sử dụng hai số điện thoại này để liên lạc với mọi người hàng ngày, tra cứu list điện thoại của số 0983506506 xác định N đã sử dụng số điện thoại này để gọi vào số 0349826469 của chị NBH vào các ngày 03, 04, 07, 08-05-2019, phù hợp với các tài liệu điều tra đã thu thập được.

Tiến hành phối hợp với Công ty Cổ phần VNG xác minh các thông tin liên quan đến 2 tài khoản zalo “Lặng Thầm” và “Lucky Man” gồm: Số điện thoại tạo lập tài khoản, thời điểm tạo lập tài khoản, tài khoản đã bao nhiêu lần tạo lập lại; thời gian hoạt động của từng lần tạo lập; tên tài khoản zalo, thông tin ngày sinh, giới tính của từng lần tạo lập; xác định tài khoản zalo nhắn tin, gọi điện với 2 tài khoản này. Tại công văn phúc đáp của Công ty cổ phần VNG chỉ thể hiện tài khoản zalo “Lặng Thầm” được đăng ký bằng số điện thoại 0906032464, “Lucky Man” được đăng ký bằng số điện thoại 01696796579, ngoài ra Công ty Công VNG hiện không lưu các thông tin khác như yêu cầu của cơ quan CSĐT.

Về vật chứng: Đối với xe ô tô Mazda 3, màu trắng, BKS: 15A – 236.43 kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô, 01 giấy biên nhận thế chấp giữa Nguyễn Quang N và Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội đối với chiếc xe ô tô BKS: 15A – 236.43. Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô hiện là tài sản thế chấp theo “Hợp đồng thế chấp ô tô hình thành từ vốn vay” số: 7007.16.264.2646539.BĐ do N thế chấp để vay từ ngày 10-3-2016, Ngân hàng MB Bank, Chi nhánh Hải Phòng giữ toàn bộ các giấy tờ bản gốc của xe.

Tại bản Kết luận giám định số 526 ngày 30-5-2019 của Phòng PC09 - Công an tỉnh N Định kết luận chiếc xe ô tô này có số khung 4AA6GC029537, số máy P520345050 là số nguyên thủy của nơi sản xuất: Xét thấy xe ô tô không liên quan đến hành vi phạm tội nên CQĐT, Công an tỉnh N Định đã trả lại cho Nguyễn Quang N.

Số tiền 220.000.000 đồng do chị NBH nộp lại, đây là tiền của chị NBH nên CQĐT, Công an tỉnh N Định đã trả lại cho chị NBH.

Các vật chứng còn lại gồm: 01điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu đồng lắp sim số 0983506506; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 9, màu đen lắp sim số 0948854854; 01 thanh kiếm dài khoảng 60cm thu được trong xe ô tô của N (N khai mới mua tại cửa hàng bán đồ lưu niệm ở Cao Bằng với mục đích mang về treo trang trí tại nhà) chuyển đến cục thi hành dân sự chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình N đã bồi tNBH tổn thất tinh thần cho chị NBH số tiền 200.000.000 đồng và chị NBH đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho N, không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 20 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định đã truy tố Nguyễn Quang N về tội: “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015).

Tại phiên tòa, bị cáo N đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quang N. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang N từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu xung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động và tuyên tịch thu tiêu hủy thanh kiếm đã thu giữ.

Bị cáo N nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của bị cáo N tại phiên tòa, tại cơ quan điều tra, căn cứ vào lời khai của người bị hại là chị NBH, căn cứ vào lời khai của người làm chứng, căn cứ vào vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập lưu hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng tháng 3-20109 đến ngày 08-5-2019, Nguyễn Quang N nhiều lần nhắn tin, gọi điện cho chị NBH nói là đang giữ các clip sex ghi cảnh quan hệ tình dục của chị NBH và yêu cầu chị NBH phải đưa tiền cho N thì N sẽ giao lại các clip sex này cho chị NBH, nếu không sẽ tung các clip sex của chị NBH lên mạng xã hội làm cho chị NBH lo sợ phải hẹn giao cho N số tiền 30.000.000 đồng vào ngày 08-5-2019 nhưng khi gặp chị NBH thì N sợ bị phát hiện, nên không nhận tiền và đe dọa, yêu cầu chị NBH không được nói cho ai biết việc này. Như vậy, hành vi của Nguyễn Quang N đã phạm tội cưỡng đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 của BLHS năm 2015.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản đồng thời cũng xâm phạm đến quan hệ nhân thân của bị hại, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thái độ khai báo thành khẩn, đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.

[5] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX thấy cần phải cho cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chưa chiếm đoạt số tiền 30.000.000đ nên không đặt ra giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra vụ án đã thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Note 9 màu đen. Hai chiếc điện thoại di động này N dùng vào việc thực hiện phạm tội, nên tịch thu xung quỹ Nhà nước. 01 thanh kiếm N khai mua ở cửa hàng bán đồ lưu niệm ở Cao Bằng mang về trang trí nhà, xét thấy thanh kiếm là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang N phạm tội: Cưỡng đoạt tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang N 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án (Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09-5-2019 đến ngày 19-7-2019).

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu xung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu vàng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Note 9 màu đen. Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm dài khoảng 60cm. (Chi tiết theo biên bản giao, nhận tài sản thi hành án số 63/19 ngày 22-8-2019 giữa Công an tỉnh N Định và Cục thi hành án dân sự tỉnh N Định).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Quang N phải nộp 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ