vanban.org

Bản án 89/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Hân: Cho chị Bùi Thị Hân được ly hôn anh Bùi Văn Y.

Về con chung: Giao 03 con chung là Bùi Thị Huệ, sinh 19/04/2011; Bùi Thị Hiếu, sinh ngày 20/01/2008; Bùi Bình An, sinh ngày 08/8/2013 cho anh Y trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 11/2018 trở đi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh Y chưa yêu cầu chị Hân cấp dưỡng nuôi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "89/2019/HNGĐ-ST 17/12/2019 Chị Bùi Thị V đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Hân: Cho chị Bùi Thị Hân được ly hôn anh Bùi Văn Y.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28/11/2018
V/v : Tranh chấp về
Hôn nhân và Gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.

Hội Thẩm Nhân Dân:

1. ông Bùi Văn Thiệu;

2. ông Bùi Văn Ơn

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Hồng- Thư ký Toà án huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Lê Xuân Trường- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 08 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/10/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bùi Thị Hân, sinh năm 1986. Cư trú và làm việc: xóm Khen II, xã Bình Hẻm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt);

- Bị đơn: Bùi Văn Y, sinh năm 1974. Cư trú và làm việc: xóm Khen II, xã Bình Hẻm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Bùi Thị Hân trình bày:

1. Về hôn nhân:

Chị và anh Bùi Văn Y có tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2008 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh Y thường xuyên say rượu, mắng chửi, đánh đập chị. Hiện hai người đã sống ly thân khoảng một năm nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hân xin ly hôn để giải phóng cho cả hai và ổn định cuộc sống.

2. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Bùi Thị Huệ, sinh 19/04/2011; Bùi Thị Hiếu, sinh ngày 20/01/2008; Bùi Bình An, sinh ngày 08/8/2013. Do chị Hân phải đi làm ăn xa, các con còn nhỏ và đang sống với anh Y nên khi ly hôn chị Hân đề nghị giao các con chung cho anh Y trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo việc sinh hoạt, học tập của các con. Riêng cháu Bùi Thị Xuân sinh ngày 20/8/2005 là con riêng của chị và đang sống với chị.

3. Về tài sản; Công nợ chung: chị Hân khai không có.

Ngoài ra chị Hân không có yêu cầu gì thêm.

Anh Y vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:

Về tố tụng: Anh Y được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng không chấp hành. Phiên tòa đã phải hoãn một lần do đó đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Y theo thủ tục chung là có cơ sở theo qui định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị Hân và anh Y đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hân là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị Hân là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về tài sản; công nợ chung: chị Hân khai nhận không có nên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo qui định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Về việc vắng mặt của bị đơn Bùi Văn Y: anh Bùi Văn Y vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Y theo thủ tục chung.

. Về hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa anh Y và chị Hân là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do tình tình vợ chồng không hợp nhau khiến cuộc sống chung của vợ chồng luôn căng thẳng nặng nề, bất hòa nhiều năm. Hiện hai người đã sống ly thân khoảng một năm nay. Anh Y không đến Tòa thể hiện không có thiện trí hòa giải đoàn tụ vợ chồng, từ bỏ quyền trình bầy nguyện vọng của anh trước việc chị Hân xin ly hôn tại Tòa án.

Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa anh Y và chị Hân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hân với anh Y là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

. Về con chung: Anh Y và chị Hân có 03 con chung là Bùi Thị Huệ, sinh 19/04/2011; Bùi Thị Hiếu, sinh ngày 20/01/2008; Bùi Bình An, sinh ngày 08/8/2013. Do chị Hân phải đi làm ăn xa, các con còn nhỏ và đang sống với anh Y nên khi ly hôn chị Hân đề nghị được giao các con chung cho anh Y trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bào việc sinh hoạt, học tập của các con. Riêng cháu Bùi Thị Xuân sinh, ngày 20/8/2005 là con riêng của chị Hân và đang sống với chị. Xét quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, điều kiện thực tế và nguyện vọng của đương sự thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Hân là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Anh Y chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; Theo kết quả xác minh tại địa phương thì anh Y có đầy đủ điều kiện nuôi con. Căn cứ các Điều 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 HĐXX xét thấy chưa cần thiết giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

. Về tài sản; Công nợ chung: Chị Hân khai không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Chị Hân phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào:

+ Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình năm 2014;

+ Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; 273; 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Hân: Cho chị Bùi Thị Hân được ly hôn anh Bùi Văn Y.

- Về con chung: Giao 03 con chung là Bùi Thị Huệ, sinh 19/04/2011; Bùi Thị Hiếu, sinh ngày 20/01/2008; Bùi Bình An, sinh ngày 08/8/2013 cho anh Y trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 11/2018 trở đi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Anh Y chưa yêu cầu chị Hân cấp dưỡng nuôi con chung với anh. Chị Hân có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản; Công nợ chung: Không có.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự buộc chị Hân phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ dự phí chị Hân đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004387 ngày 27/08/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay chị Hân không phải nộp án phí nữa.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi cư trú của họ.

Cỡ chữ