vanban.org

Bản án 89/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Hằng và anh Bùi Xuân Hợp.

Về con chung: giao cháu Bùi Thị Bình, sinh ngày 28/9/2011 cho anh Hợp trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Bùi Quốc Khánh, sinh ngày 02/9/2013 cho chị Hằng trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 11/2018 trở đi cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Chị Hằng, anh Hợp chưa yêu cầu cấ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "89/2019/HNGĐ-ST 17/12/2019 Chị Bùi Thị V đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Hằng và anh Bùi Xuân Hợp.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 51 Luật Hôn Nhân- Gia Đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 16/11/2018
V/v: Tranh chấp về
Hôn nhân và Gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.

Hội Thẩm Nhân Dân:

1. ông Bùi Văn Thiệu;

2. ông Bùi Văn Ơn.

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Hồng- Thư ký Toà án huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Lê Xuân Trường- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 09 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/10/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bùi Thị Hằng, sinh năm 1989. Cư trú và làm việc: xóm Đạn, xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (Có mặt);

- Bị đơn: Bùi Xuân Hợp, sinh năm 1988. Cư trú và làm việc: xóm Đạn, xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Bùi Thị Hằng trình bày:

1. Về hôn nhân:

Chị và anh Bùi Xuân Hợp có tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2011 tại UBND xã Vũ Lâm, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai người sống tại xóm Đạn- xã Vũ Lâm. Quá trình chung sống, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, anh Hợp thường xuyên uống rượu say mắng chửi thậm chí đánh đập chị, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện hai người đã sống ly thân với nhau từ tháng 06/2017 đến nay. Thấy cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc nên chị Hằng xin ly hôn để giải phóng cho cả hai và ổn định cuộc sống, yên tâm nuôi con.

2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Bùi Quốc Khánh, sinh ngày 02/9/2013 và Bùi Thị Bình, sinh ngày 28/9/2011. Hiện các con còn nhỏ và đang sống với bố. Nhưng do mỗi lần về thăm con gia đình anh Hợp không tạo điều kiện và tỏ thái độ khó chịu với chị nên khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Khánh và anh Hợp trực tiếp nuôi cháu Bình. Chị Hằng chưa đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung; Công nợ chung: chị Hằng khai không có.

Ngoài ra chị Hằng không có yêu cầu gì thêm.

Quan điểm của anh Bùi Xuân Hợp .

1. Về hôn nhân: Anh Bùi Xuân Hợp nhất trí với ý kiến của chị Hằng, thừa nhận giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và anh nhất trí ly hôn.

2. Về con chung: Anh Hợp cũng thừa nhận có 02 con chung như chị Hằng trình bày. Nhưng do chị Hằng bỏ đi, không thăm nom con, có quan hệ phức tạp nên anh không đồng ý giao con cho chị Hằng nuôi. Gia đình anh không hề cản trở việc thăm nom con của chị Hằng. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và chưa đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung; Công nợ chung: anh Hợp khai không có.

Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:

Về hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị Hằng và anh Hợp đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận sự tự nguyên ly hôn của chị Hằng và anh Hợp là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về con chung: Xét nguyện vọng và điều kiện mọi mặt của các bên đương sự và con chưa thành niên, cần giao anh Hợp trực tiếp nuôi cháu Bùi Thị Bình, sinh ngày 28/9/2011; giao chị Hằng trực tiếp nuôi cháu Bùi Quốc Khánh, sinh ngày 02/9/2013 là phù hợp. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung do các bên đương sự không có yêu cầu.

Về tài sản chung; công nợ chung: chị Hằng, anh Hợp khai nhận không có nên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:

. Về hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Hợp và chị Hằng là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau khiến vợ chồng xảy ra nhiều bất hòa, cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc, hiện hai người đã sống ly thân từ tháng 06/2017 đến nay. Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa anh Hợp và chị Hằng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận sự tự nguyên ly hôn của chị Hằng và anh Hợp là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

. Về con chung:

Anh Hợp và chị Hằng có 02 con chung là: Bùi Quốc Khánh, sinh ngày 02/9/2013 và Bùi Thị Bình, sinh ngày 28/9/2011. Hiện các con còn nhỏ và đang sống với anh Hợp. Nhưng do mỗi lần về thăm con gia đình anh Hợp không tạo điều kiện nên khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi cháu Khánh và anh Hợp trực tiếp nuôi cháu Bình.

Anh Hợp không nhất trí giao con cho chị Hằng nuôi vì chị Hằng bỏ đi, không thăm nom con, có nhiều quan hệ phức tạp. Gia đình anh không hề cản trở việc thăm nom con của chị Hằng. Anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Chị Hằng, anh Hợp chưa đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét nguyện vọng của các bên đương sự và quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Hằng, giao cháu Bình cho anh Hợp trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Khánh cho chị Hằng trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 11/2018 trở đi cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Hằng, anh Hợp chưa yêu cầu cấp dưỡng con chung. Căn cứ các Điều 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 HĐXX xét thấy chưa cần thiết giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

. Về tài sản chung; Công nợ chung: Chị Hằng, anh Hợp khai không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Chị Hằng phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình năm 2014.

- Xử chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Hằng và anh Bùi Xuân Hợp.

- Về con chung: giao cháu Bùi Thị Bình, sinh ngày 28/9/2011 cho anh Hợp trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Bùi Quốc Khánh, sinh ngày 02/9/2013 cho chị Hằng trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 11/2018 trở đi cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Chị Hằng, anh Hợp chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Hai bên có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự buộc chị Hằng phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ dự phí chị Hằng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000557 ngày 28/09/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay chị Hằng không phải nộp án phí nữa.

Đã báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ