vanban.org

Bản án 89/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 14/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11 tháng 06 năm 2018. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vấn đề dân sự trong vụ án: Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Văn Th về việc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Buộc bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật hình sự bảo vệ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2018/HSST
Ngày: 14/08/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thinh

Ông Đặng Đình Phương

- Thư ký phiên tòa:Ông Lã Hoàng Giáp- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Sinh- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 08 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2018/TLST- HS, ngày 23 tháng 07 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2018/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 07 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th, sinh năm 1994, tại xã T, huyện V, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu B và bà Phạm Thị C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/09/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/06/2018. Chuyển tạm giam ngày 15/6/2018 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình (Có mặt).

Người bị hại: Anh Phạm Văn Th, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Ninh Bình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Pảo Văn D, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn D, xã L, huyện X, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).

Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1999 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Ninh Bình.

Anh Lâm Quang S (vắng mặt).

Trú tại: Số nhà N, đường Th, phố 6, phường Th, thành phố B, tỉnh Ninh Bình.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Chí Th (vắng mặt).

Trú tại: Số nhà B, ngõ M, Quận L, thành phố Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Th và các anh Phạm Văn Th, Lâm Quang S đều trú tại xã T, huyện V, tỉnh Ninh Bình có mối quan hệ quen biết từ trước. Anh Th và anh S làm tại khách sạn The Reed, phố 11, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình. Sáng ngày 16/5/2018, anh S có ý định về quê nên mượn chiếc xe moto hiệu Yamaha Exciter BKS 35N1 - 280.24 màu xám xanh của anh Th để ở phòng trọ tại số nhà 120, đường Chiến Thắng, phố 6, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình. Khoảng 12 giờ ngày 16/5/2018, Th dắt theo chiếc xe máy điện đến phòng trọ của anh S để chơi. Do xe hết điện, Th mượn anh S chiếc xe moto BKS 35N1 - 280.24 để đi cắt tóc, anh S đồng ý và giao xe moto cùng chìa khóa xe cho Th. Thấy xe moto còn mới, giá trị cao nên Th đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Th điều khiển xe ra khu vực chợ Rồng thuộc phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình đánh thêm 01 chìa khóa xe rồi cất giữ trong người. Th tiếp tục đi cắt tóc sau đó điều khiển xe moto về trả cho anh S cùng chìa khóa xe gốc. Biết anh S, anh Th đang làm tại khách sạn The Reed nên khoảng 12 giờ ngày 17/5/2018, Th mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang đi bộ từ ngõ 810, đường Trần Hưng Đạo, phố Trung Nhì, phường Tân Thành, thành phố Ninh Bình ra khu vực ngã tư Hoa Đô thuê xe ôm chở đến khách sạn The Reed. Đến nơi Th xuống xe đi bộ xuống tầng hầm, phát hiện thấy anh Th để chiếc xe moto BKS 35N1 - 280.24 ở đó không có người trông coi. Lợi dụng sơ hở, Th lại gần dùng chìa khóa đã chuẩn bị từ trước tra vào ổ khóa điện, mở khóa rồi điều khiển xe ra khỏi khách sạn. Để tránh bị phát hiện, Th điều khiển xe moto đến Bệnh viện sản nhi tỉnh Ninh Bình, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình gửi ở đó để cất giấu. Đến ngày 18/5/2018, Th đến Bệnh viện sản nhi lấy xe moto đi tìm nơi tiêu thụ. Khoảng 16 giờ ngày 20/05/2018, Th điều khiển xe moto đến khu vực cầu Đa Phúc thuộc địa phận thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì dừng xe rồi mở cốp xe kiểm tra thấy trong cốp xe có 01 ví da đã cũ rách bên trong để 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1999, trú tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Ninh Bình; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn Th; 01 chứng minh nhân dân và 01 đăng ký xe moto Honda Wave BKS 35N1 - 249.38 mang tên Lâm Quang S; 01 đăng ký xe moto BKS 35N1- 280.24, mang tên Phạm Văn H. Th giữ lại 02 đăng ký xe moto còn chiếc ví da cùng 03 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, Thá ném xuống sông dưới chân cầu Đa Phúc. Sau đó Th điều khiển xe moto đến gặp anh Pảo Văn D, sinh năm 1993 trú tại xã Th, thị xã Y, tỉnh Thái Nguyên là bạn của Th nhờ D dẫn đi cầm cố xe. D dẫn Th ra cửa hàng cầm đồ Thanh Cường của anh Trần Văn C, sinh năm 1984 ở xã Th, thị xã Y, tỉnh Thái Nguyên, anh C có hỏi Th về nguồn gốc chiếc xe, Th nói đó là xe moto của Th. Anh C đồng ý và cho Th cầm cố chiếc xe với số tiền 20.000.000 đồng, trong thời gian 01 tháng đồng thời yêu cầu anh D để lại đăng ký xe và chứng minh nhân dân của Th để làm tin. Sau khi lấy được tiền, Th về phòng trọ của bạn là Nguyễn Chí Th, sinh năm 1994 tại số B, ngõ 31, quận L, thành phố Hà Nội chơi rồi để quên 01 đăng kí xe moto mang tên Lâm Quang S tại đó. Đến gần hết hạn cầm cố xe, Th gọi điện nhờ anh D lấy chiếc xe moto sau đó Th sẽ lên thanh toán tiền cho anh D và lấy xe về, anh D đồng ý. Ngày 12/6/2018 anh D đã đến hiệu cầm đồ của anh C lấy chiếc xe trên và thanh toán với anh C số tiền gốc và lãi là 20.200.000 đồng. Vì Th không đi cùng nên anh C chỉ trả chiếc xe moto cho anh D nhưng vẫn giữ lại giấy đăng ký xe moto BKS 35N1 - 280.24 và chứng minh thư nhân dân của Th. Đối với số tiền 20.000.000 đồng Th sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 11/6/2018, biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình, Nguyễn Văn Th đến Công an thành phố Ninh Bình xin được đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Công an thành phố Ninh Bình đã thu giữ 01 xe moto Yamaha Exciter màu xám xanh BKS 35N1 - 280.24 và 01 chìa khóa xe moto ghi số Y1080; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe moto hiệu Honda Wave BKS 35N1 - 249.38 mang tên Lâm Quang S; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe moto BKS 35N1 - 280.24 mang tên Phạm Văn H, 01 giấy CMTND mang tên Nguyễn Văn Th, 01 giấy vay tiền của Nguyễn Văn Th.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐ, ngày 13/06/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Trị giá chiếc xe moto nhãn hiệu YAMAHA Exciter biển kiểm soát 35N1 - 280.24 trị giá 38.250.000đồng.

Tại bản cáo trạng số: 101/CT-VKS, ngày 20.07.2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Thái ra trước Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự ; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự xử phạt Nguyễn Văn Th từ 18 tháng tù, đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp là chiếc xe mô tô BKS 35N1- 280.24 cùng giấy đăng ký xe đã được thu hồi trả cho người bị hại (anh Th), người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại, nên ghi nhận sự tự nguyện của người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Đối với số tiền Th nhờ anh Pảo Văn D trả cho hiệu cầm đồ để lấy xe moto về là 20.200.000đồng cần buộc bị cáo phải trả cho anh D, bị cáo đã nộp 2.000.000đồng tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để trả cho anh Pảo Văn D, bị cáo còn phải trả cho anh Pảo Văn D 18.200.000đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng).

Đối với chiếc áo chống nắng và khẩu trang sau khi phạm tội Th vứt bỏ không nhớ ở đâu nên cơ quan điều tra không thu hồi được.

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Th không liên quan đến vụ án, Th đã ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1957, trú tại xã T, huyện V, tỉnh Ninh Bình, là bố đẻ của Th nhận lại tài sản. Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chứng minh nhân dân trên cho ông B.

Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho anh Lâm Quang S 01 giấy đăng ký xe moto BKS 35N1 - 249.38, anh S đã nhận lại và không có ý kiến gì.

Đối với 01 chiếc ví da đã cũ rách, 03 chứng minh thư mang tên Lâm Quang S, Phạm Văn Th, Nguyễn Văn H cùng một giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn H, quá trình điều tra Th khai nhận đã vứt xuống sông dưới chân cầu Đa Phúc. Cơ quan đã truy tìm vật chứng của vụ án nhưng không thu hồi được. Anh S, Th, H không có ý kiến và đề nghị gì về việc bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Đối với 01 giấy vay tiền của Nguyễn Văn Th được lưu theo hồ sơ vụ án. Một chìa khóa xe moto ghi số Y1080, Th đánh thêm để sử dụng vào việc trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo thừa nhận hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản (anh Nguyễn Văn Th), hồi 12 giờ 27 phút, ngày 17/05/2018, tại khu vực hầm để xe của khách sạn The Reed thuộc phố 11, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, Nguyễn Văn Th đã lén lút chiếm đoạt 01chiếc xe moto nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xám xanh BKS 35N1 - 280.24 của anh Th, trị giá là 38.250.000 đồng.Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự thì người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 38.250.000đồng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể được luật hình sự bảo vệ việc khởi tố, truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ra đầu thú, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị áp dụng loại và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ và cần phải xử phạt bị cáo loại, mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 giấy vay tiền của Nguyễn Văn Th được lưu theo hồ sơ vụ án. Một chìa khóa xe moto ghi số Y1080 Thái đánh thêm để sử dụng vào việc trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vấn đề dân sự trong vụ án: Tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu hồi trả cho người bị hại (anh Th) không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên ghi nhận sự tự nguyện của bị hại (anh Th) về việc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

Đối với số tiền Th nhờ anh Pảo Văn D trả cho hiệu cầm đồ để lấy xe moto về là 20.200.000đồng cần buộc bị cáo phải trả cho anh Pảo Văn D, bị cáo đã nộp 2.000.000đồng tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để trả cho anh Pảo Văn D, bị cáo còn phải trả tiếp cho anh Pảo Văn D 18.200.000đồng (mười tám triệu hai trăm nghìn đồng).

Đối với 01 chiếc ví da đã cũ rách, 03 chứng minh thư mang tên Lâm Quang S, Phạm Văn Th, Nguyễn Văn H cùng một giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn H, quá trình điều tra Thái khai nhận đã vứt xuống sông dưới chân cầu Đa Phúc. Cơ quan đã truy tìm vật chứng của vụ án nhưng không thu hồi được. Anh S, Th, Ho không có ý kiến và đề nghị gì về việc bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Về án phí, bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm, án phí dân sự trng vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 48 Bộ luật hình sự, áp dụng Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 18 (mười tám) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11 tháng 06 năm 2018.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vấn đề dân sự trong vụ án: Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyễn Văn Th về việc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Buộc bị cáo phải trả cho anh Pảo Văn D số tiền là 20.200.000đồng (hai mươi triệu, hai trăm nghìn đồng), bị cáo đã nộp 2.000.000đồng tại chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình (theo biên lai thu tiền số AA/2010/06929 ngày 14 tháng 08 năm 2018) để trả cho anh Pảo Văn D, bị cáo còn phải trả cho anh Pảo Văn D 18.200.000đồng (mười tám triệu, hai trăm nghìn đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Lưu hồ sơ vụ án 01 giấy vay tiền của Nguyễn Văn Th. Tịch thu tiêu hủy một chìa khóa xe moto ghi số Y1080, cụ thể chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 07 năm 2018 giữa Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

5. Nghĩa vụ nộp án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) và nộp án phí dân sự trong vụ án hình sự số tiền 910.000đồng (chín trăm, mười nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ